Thơ QUANG DŨNG
 

Thương nhớ ơ hờ thương nhớ ai

Sông xa từng lớp lớp mưa dài...

Đôi dòng tiểu sử

 

 Đôi Mắt Người Sơn Tây

Em ở thành Sơn chạy giặc về
Tôi từ chinh chiến cũng ra đi
Cách biệt bao ngày quê Bất Bạt
Chiều xanh không thấy bóng Ba Vì

Vừng trán em vương trời quê hương
Mắt em dìu dịu buồn Tây Phương
Tôi thấy xứ Đoài mây trắng lắm
Em đã bao ngày em nhớ thương ?

Mẹ tôi, em có gặp đâu không ?
Bao xác già nua ngập cánh đồng
Tôi nhớ một thằng con bé dại
Bao nhiêu rồi xác trẻ trôi sông !

Từ độ thu về hoang bóng giặc
Điêu tàn ôi lại nối điêu tàn !
Đất đá ong khô nhiều suối lệ
Em đã bao ngày lệ chứa chan ?

Đôi mắt người Sơn Tây
U ẩn chiều lưu lạc
Buồn viễn xứ khôn khuây
Tôi gửi niềm nhớ thương
Em mang giùm tôi nhé
Ngày trở lại quê hương
Khúc hoàn ca rớm lệ

Bao giờ trở lại đồng Bương Cấn
Về núi Sài Sơn ngắm lúa vàng
Sông Đáy chậm nguồn quanh Phủ Quốc
Sáo diều khuya khoắt thổi đêm trăng

Bao giờ tôi gặp em lần nữa
Ngày ấy thanh bình chắc nở hoa
Đã hết sắc mùa chinh chiến cũ
Còn có bao giờ em nhớ ta ?

1949

 


 

 

Kẻ Ở

 

Mai chị về em gửi gì không?
Mai chị về nhớ má em hồng
Đường đi không gió lòng sao lạnh
Bụi vướng ngang đầu mong nhớ mong

 

Quê chị về xa tít dặm xa
Rừng thu chiều xao xác canh gà
Hoa rơi khắp lối, sương muôn ngả
Ngựa lạc rừng hoang qua lướt qua

 

Ngựa chị dừng bên thác trong veo
Lòng chị buồn khi nắng qua đèo
Nơi đây lá giạt vương chân ngựa
Hươu chạy quay đầu theo ngó theo
 

Rừng đêm nhòa bóng nhớ hoang mang
Ngựa chị dừng bên thác trăng vàng
Sao rơi đáy nước vương chân ngựa
Buồn dâng đôi mi hàng lại hàng.

 

Chú thích: Bài thơ được coi là của Quang Dũng vì nó xuất hiện trong một cuốn sổ tay của ông. Tuy nhiên, Quang Dũng chưa bao giờ nhận đó là tác phẩm của mình cả. Xét cho cùng, tứ thơ, phong cách và nhạc điệu của bài thơ cũng rất... Quang Dũng.

 

Trắc Ẩn

 

Chưa gặp sao đành thương nhớ nhau?
Đòi phen số mệnh cũng cơ cầu
Người đi mang nửa hồn đơn lẻ
Tôi về hoài vọng một đôi câu
 

Khói thuốc chiều sông, hỡi dáng người!
Phương nào đôi mắt ngó xa xôi
Nào ai biết được niềm u ẩn
Từng lắng nhiều trong những mảnh đời
 

Tôi viết chiều nay, chiều tưởng vọng
Làm thơ mình lại tặng riêng mình
Sông trôi luống gợi dòng vô hạn
Biền biệt ngày xanh xa ngày xanh
 

Thời đại bao lần khô nước mắt
Hoa đèn riêng gửi chút tâm tư
Ngắn dài đã học người thiên cổ
Vạn đại sầu lên chẳng bến bờ
 

Chiều ấy em về thương nhớ ai?
Tôi chắc đường đi đã rất dài
Tim tím chiều hôm lên bóng núi
Dọc đường mờ những cánh hoa phai\.

Một chút linh hồn nhỏ
Đi về chân núi xanh
Màu tím chiều chầm chậm
Hoàng hôn nghe một mình
Giáo đường chuông rời rạc
Tan vỡ nhiều âm thanh
 

Một chút linh hồn nhỏ
Đi về chân núi xanh
 

— 1949

Chiêu Quân


Tuyết lạnh che mờ trời Hán Quốc
Tỳ bà lanh lảnh buốt cung Thương
Tang tình năm ngón sầu dâng lệ
Chiêu Quân sang Hồ xừ hồ xang

 

Đây Nhạn Môn Quan đường ải vắng
Trường Thành xa lắm Hán Vương ơi!
Chiêu Quân che khép mền chiên bạch
Gió bấc trời Phiên thấm lạnh rồi

 

Ngó lại xanh xanh triều Hán Đế
Từng hàng châu lệ thấm chiên nhung
Quân vương chắc cũng say và khóc
Ái khanh! Ái khanh! Lời nghẹn ngùng

 

Hồ xang hồ xang xự hồ xang
Chiêu Quân nàng ơi lệ dâng hàng
Lã chã trời Phiên mưa tuyết xuống
Chiêu Quân sang Hồ, xừ hồ xang.
 

— 1937



 

Mây Đầu Ô

 

Mây ở đầu ô mây lang thang
Ôi! Chật làm sao
Góc phố phường
Mây ở đầu ô
Hẹn những chân trời xa lạ
Qua một ngọn cột đèn
Chiều tối lại bừng con mắt đỏ
Cành bàng mái cũ khẳng khiu
Vườn đẹp khi mùa rụng lá
Cành bàng lại mở tàn xanh
Mùa hạ về theo chim sẻ
Nhưng ta có gì
Tự thấy những ngày không tẻ ?
Mây trắng lang thang
Gió đuổi bời bời phố chật
Những lớp người hai mươi tuổi
Ca nước đập vỏ bình toong
Khăn mặt thấm mồ hôi
Bụi đỏ
Bụi vàng
Trung du bóng cọ
Nắng đốt màu da họ
Là nắng triền cao
Tay sém ngấn mặt trời
Là trời công trường xa tít tắp
Áo ngực xanh yếm biển
Bay bay dãi mũ Hải Quân
Những gã hai mươi mùa xuân
Từ đâu thổi vào thành phố?...
Mây mùa thu
Lọt qua trời hẹp ngõ
Lướt nhanh qua mái ngói ba tầng
Tiếng dương cầm...
Ta theo tiếng nhạc
Bay khỏi mái nhà
Ta mê xanh thẳm
Như cánh chim trời
Thấy
Mình còn sức trẻ
Ơi! Những bạn tôi
Vào lớp tuổi năm mươi
Mây ở đầu ô
Trời xanh lộng thế...

— 1970
 

Trở lại đầu
 


 

Cố Quận

 

Trăng sáng sân vờn đôi bóng cau
Ngồi đây mà gửi nhớ phương nào
Gió mát long lanh vầng Bắc Đẩu
Tiết hè ếch nhái rộn bờ ao\.
 

Ngồi đây năm năm miền ly hương
Quê người đôi gót mỏi tha phương
Có những chiều trăng tròn đỉnh núi
Nhà ai chày gạo giã đêm sương
 

Tịch mịch sầu vơi bèo râm ran
Chuối vườn khuya lọt ánh trăng tàn
Người ơi quê cũ đèn hoe ngọn
Tóc bạc trông chừng cổng héo hon.
 

Ngõ trúc quanh quanh sâu bóng lá
Trăng vàng rơi rắc nẻo nào xưa
Ngõ cũ không mong người trở lại
Mà mùi hoa mộc vẫn thơm đưa\.
 

Em ơi, Em ơi đêm dần vơi
Trông về phương ấy ngóng trông người
Trăng có soi qua đầu tóc bạc
Nẻo chừng Cố Quận nhớ thương ời!
 

Trăng sáng năm năm mùa lại mùa
Hạ này vơi lại nhớ thu xưa
Người đi người đi đường quạnh quạnh
Ngày tháng thương vay kẻ đợi chờ.
 

— 1940

 

 

Trưa Hè

 

Trưa hè bỗng nhớ sông quê
Nước xa không bóng thuyền đi đôi dòng
Thóc nhà ai có phơi không?
Chói chang lửa thóc sân trông bóng người
Vại mưa in dáng mây trời
Em soi bóng có nhớ người xa em?
Bờ tre gió đánh lả mềm
Thoảng say mùi nái bên thềm ai giăng
 

Xa quê dầu chẳng võ vàng
Trông mây núi nhớ mây làng về trưa
 

— tháng 5, 1960

 


 

Đôi Bờ
Quang Dung

Thương nhớ ơ hờ, thương nhớ ai ?
Sông xa từng lớp lớp mưa dài
Mắt kia em có sầu cô quạnh
Khi chớm heo về một sớm mai ?
 

Rét mướt mùa sau chừng sắp ngự
Bên này em có nhớ bên kia
Giăng giăng mưa bụi quanh phòng tuyến
Hiu hắt chiều sông lạnh bến Tề
 

Khói thuốc xanh dòng khơi lối xưa
Đêm đêm sông Đáy lạnh đôi bờ
Thoáng hiện em về trong đáy cốc
Nói cười như chuyện một đêm mơ
 

Xa quá rồi em người mỗi ngả
Bên này đất nước nhớ thương nhau
Em đi áo mỏng buông hờn tủi
Dòng lệ thơ ngây có dạt dào ?


1948

 

 

Tây Tiến

 

Sông Mã xa rồi Tây tiến ơi!

Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi

Sài Khoa sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi

 

Dố lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây, súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

 

Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên súng mũ bỏ quên đời

Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người

 

Nhớ ôi Tây tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi

 

Doanh trai bừng lên hội đuốc hoa

Kìa em xiêm áo tự bao giờ

Khèn lên man điệu nàng e ấp

Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ

 

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lao nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa

 

Tây tiến đoàn binh không mọc tóc

Quan xanh mầu lá dữ oai hùng

Mắ trừng gởi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

 

Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo báo thay chiếu anh về đất

song Mã gầm lên khúc độc hành

 

Tây tiến người đi không hẹn ước

Đường đi thăm thẳm một chia phôi

Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy

Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.

 

Quang Dũng

 

 

 

Viết về Quang Dũng

 

Hồi ức về một con người

             - Hoài Việt -

Thế là anh đã ra đi. Vĩnh viễn không quay lại.
Trên nẻo đường hun hút ấy vẫn như còn thấp thoáng bóng anh: dáng vóc trượng phu lừng lững, hiền lành đến nhút nhát, hóm hỉnh rất hồn nhiên. Có phải vì vậy mà quanh anh đã dệt nên rất nhiều huyền thoại? Thành tố chủ đạo của chất người Quang Dũng không phải là võ mà là văn.

Rồi cái mũ lá thay cho mũ calô. Thanh kiếm Nhật treo lên, cầm lên tay cây bút. Có phải vì một lá thư Nguyễn Trãi thay được cho một đạo binh hạ thành Tam Giang. Hay vì cái "xơ ranh" không cứu được dân tộc tính AQ nên theo Lỗ Tấn mà tự vũ trang cho mình cây bút? Thanh kiếm trở thành đồ trang trí, thỉnh thoảng vẫn múa lên, hoa rơi tuyết rụng nhưng mấy ai biết, mấy ai hay. Còn Tây Tiến, Đôi mắt người Sơn Tây... thì được bay đi từ nhiều cửa miệng.

Nhưng qua khẩu khí đó, người ta biết con nhà võ làm văn. Cũng như cái tinh thần thượng võ, cái khí, cái thần của văn học ấy được đúc nên từ lòng yêu thương gắn bó với xứ Đoài đất đá ong có bầu trời nhiều mây trắng lắm. Quang Dũng yêu con sông Đáy "ngàn dâu xanh ngắt một màu", yêu núi Ba Vì mờ cao, yêu cánh đồng vàng Bương Cấn, yêu rặng Sài Gòn gắn với động Hoàng Xá... đẹp như tranh. Từ đó mà yêu biển, yêu rừng... yêu nên tìm đến, tìm đến mà hội nhập. Gót chân "giang hồ xê dịch" của anh kể cũng đã đặt đến nhiều nơi. Những nơi đó, anh nhập với trời đất, với con người...

Trời đất "tự nó", con người "tự nó". Nên trong thơ, trong vẽ của anh không thấy cảnh cao sang quyền quý, không thấy bàn tay "trau lục chuốt hồng", rất dân dã nên rất Việt Nam. "Quán bên đường" thương một cô chủ sốt rét rung giường; "Đôi mắt người Sơn Tây" nhớ cô bán cà phê phố Sêu người "đồng hương đồng khói"; "Hoa chanh" ấy là mùi ở vườn ta... Bức vẽ "Gốc bàng" hỏi nơi nào có cây ấy? Tranh "Chùa cổ" ấy là kiến trúc, là hoa văn miền Bắc Việt Nam... Nói sao cho hết những điều anh tả, anh vẽ. Có chăng chỉ là nói cái sự bức bối đòi bức phá để thoát ra khỏi "đầu ô" mà lang thang nhưng vẫn là lang thang trong đất nước, trong nhân dân mình.

Quang Dũng đọc và học khá nhiều của phương Tây mà không dứt cội nguồn bởi cội nguồn mà vun đắp nên anh. Có nên vì thế mà Quang Dũng vẫn giữ được bản sắc của mình. Anh không mắc cái tật vo tròn bóp méo. Yêu rừng, anh đưa "rừng về xuôi". Khiêm tốn và giản dị, anh quý con tép, con tôm, củ khoai, hột lạc, màu xanh chàm và màu nâu non anh ưa nhuộm áo nhưng không hò hét ồn ào ở cửa miệng hay trong thơ văn. Đối với con người cũng vậy. Biết mình vắt máu ra mà viết nên quý anh em. Anh không dém pha, đố kỵ, anh hay nhỏ nước mắt vì một điều thương tâm.

Anh tin con người và không để mất tính người. Bởi vậy, anh ưa làm vui cho con người. Tôi thường đùa gọi anh là ông "tân cổ giao duyên" bởi anh làm được cả lời ca cho vọng cổ và lại sáng tác được cả nhạc mới. Mà nghe đâu anh ngâm thơ thì không kém Phạm Thành. Tiếc rằng tôi chưa được nghe anh ngâm thì anh đã ra đi. Vĩnh viễn không còn quay lại. Tôi muốn đốt nén tâm hương này cho sáng lên mấy dòng hồi ức về anh.

ĐÔI BỜ

Thương nhớ ơ hờ, thương nhớ ai?
Sông xa từng lớp lớp mưa dài
Mắt kia em có sầu cô quạnh
Khi chớm heo về một sớm mai?
Rét mướt mùa sau chừng sắp ngự
Bên này em có nhớ bên kia
Giăng giăng mưa bụi qua phòng tuyến
Quạnh vắng chiều sông lạnh bến tề

Khói thuốc xanh dòng khơi lối xưa
Đêm đêm sông Đáy lạnh đôi bờ
Thoáng hiện em về trong đáy cốc
Nói cười như chuyện một đêm mơ.

Xa quá rồi em người mỗi ngả
Bên này đất nước nhớ thương nhau
Em đi áo mộng buông hờn tủi
Dòng lệ thơ ngây có dạt dào?
1948

Quang Dũng

Nhớ Quang Dũng

                -Bác sĩ Ngô Văn Quỹ -


Một chiều mùng hai Tết năm xưa. Trời mưa rây hột, gió lạnh se se. Vài ly rượu trắng trong người đủ đưa đến cái độ ngà ngà say, không ra buồn cũng chẳng thấy vui. Thỉnh thoảng nhói lên một kỷ niệm xa xưa. Năm tháng. Hạnh phúc. Vui buồn - Tiếng cười và nước mắt - một giải nắng chiều lê thê, một mảnh trăng lu xế nửa - Xa cách đôi bờ... Phố xá đã lên đèn, mơn mởn những mặt hoa thấp thoáng trong màn mưa. Hồ Gươm trắng đục, tháp Rùa mờ ảo, xác pháo ngập lối chân đi, những cánh hoa đào e ấp...

Tôi gặp Quang Dũng lần đầu tiên trong một buổi chiều như vậy. Và tôi mê anh ngay. Quang Dũng đây - Quang Dũng của "Quán bên đường" bài thơ xót xa, thắm đượm tình người, đọc một lần trên đèo Khế mà nhớ mãi. Xin cho phép tôi được chép lại bài thơ ấy ra đây, như một nén hương tưởng niệm. Biết đâu anh cũng như nàng Kiều

"thấy hiu hiu gió thì hay chị về"...

Tôi khách qua đường trưa nắng gắt
Nghỉ nhờ đây quán lệch tường xiêu
Giàn mướp nghèo không hứa hẹn bao nhiêu
Mùa gạo đắt, đường xa thưa khách vắng
Em đắp chăn bông, tóc em trĩu nặng
tôi mồ hôi ra ngực áo chứa chan
Hồn lính mờ qua vài sợi tóc
Đường tản cư bao suối lạ nương ngàn
Em mê sảng sốt hồng lên má đỏ
Em có một mình nhà hoang vắng quá
Mảnh chăn đào em đắp có hoa thêu
Hàng của em, chai lọ xác xơ nghèo
Tôi nhìn lại mảnh quần xưa đã vá
Tôi chợt nhớ chúng ta không nhà cửa
Em tản cư, tôi là lính tiền phương
Xa Hà Nội, cùng nhau, từ một thuở
Lòng rưng rưng, thương nhau quá dọc đường

Tiền nước trả em rồi. Nắng gắt
Đường xa xa mờ mờ núi và mây
Hồn lính vương qua vài sợi tóc
Tôi thương mà em đâu có hay.

Người ngồi trước mặt tôi, trong cái buổi chiều xa xưa ấy là Quang Dũng đấy. Bao lâu rồi, đọc thơ người mà nay mới "kiến kỳ hình". Vóc dáng cao lớn, vạm vỡ, đẹp người. Khuôn mặt phúc hậu, đôi mắt đầm ấm, một miệng cười có duyên. Từ con người này toát ra một cái gì rất lương thiện, rất hiền lành, đôn hậu. Đúng là một "con người tử tế" theo kiểu chúng ta hiện nay - một con người có cái tâm, mang cái tâm.

Quang Dũng vẽ cũng như làm thơ. Những bức vẽ của anh về phong cảnh là những bài thơ chan chứa tình yêu quê hương đất nước. Vẻ mỹ lệ của một bóng núi xa mờ, của một bến đò làng quen thuộc, của một thảm cỏ xanh rờn điểm vài ba nụ hoa đồng tươi mát.
Dũng là một người hoàn toàn không thể thích nghi với môi trường quanh anh. Anh đâu có thông thạo về những "luật chơi" trong môi trường này. Cánh bướm mùa mưa gió phũ phàng ấy chỉ nhận được vui ít mà buồn nhiều...

 

Đời người như một chuyến tàu buồn
Năm tháng đường dài chở nhớ thương
Ga xép quạnh hiu chiều đỗ lại
Còn trên môi, một thoáng phấn hương...

 

Sài Gòn 5-1990

Bác sĩ Ngô Văn Quỹ

 

Trở lại đầu