Lan Nhi Thi Hội Quán Hân Hoan Chào Mừng Văn Thi Nhân

Trang 1

THƠ Hồ Xuân Hương ...

Đôi ḍng tiểu sử

Thơ Hồ Xuân Hương đến với độc giả Mỹ

   Ở cấp học phổ thông trung học hiện nay, Hồ Xuân Hương có hai bài thơ được dạy trong chương tŕnh quốc văn: Bánh trôi nướcMời trầu. Các cô cậu lớp chín lớp mười được học nghệ thuật lồng một bài thơ trong một bài thơ, mượn một vật thông thường vô thuởng vô phạt để nói một điều không nên, không thể, không được nói ra. Có thể một số giáo viên giảng thêm về tâm trạng và thân phận của một phụ nữ tài hoa trong một xă hội phong kiến ở giai đoạn suy tàn. Cái tài hoa của người phụ nữ đó thể hiện qua cách dùng ẩn dụ tài t́nh, vừa ngụ trong phong cảnh mỹ miều những điều trần trụi bản năng, vừa bằng lời lẽ b́nh dân thẳng thừng thể hiện những khát vọng cao cả. Có thể họ cũng nói đến sự phản kháng âm thầm mà mănh liệt của một phụ nữ-con người đối với một xă hội đầy rẫy những tṛ bi hài, bất công, thối nát; và cuộc nổi loạn thơ ca của một phụ nữ-nhà văn trong cái thế giới văn chương Nho giáo chính thống đạo mạo nơi mà đàn ông ngự trị suốt cả ngh́n năm. Ít nhất th́ đó cũng là những ǵ tôi đă được học về Hồ Xuân Hương khi tôi là một cô gái mười lăm tuổi.

   Từ đó Hồ Xuân Hương trở nên hiện thực và hiện đại trong tâm trí lẫn cuộc sống của tôi từng ngày khi đi chợ nghe các bà xài cách nói lái Hồ Xuân Hương để cười đùa với nhau; hay trong một t́nh huống tế nhị, chỉ có cách đọc lên câu thơ lắt léo Hồ Xuân Hương mới thấy đă. Cho đến một lúc, Hồ Xuân Hương đối với tôi không là một truyền thuyết hay một tác giả hai trăm năm trước, và là một bạn đồng hành thân thiết tin cậy, luôn cổ vũ tôi bằng nụ cười hóm hỉnh, vui nhộn, lấp che đi nỗi đắng cay cực nhục. Mỗi khi ngẩng đầu lên tôi đều nh́n thấy h́nh ảnh Hồ Xuân Hương trên con đường gập ghềnh, trong tư thế loạng choạng, chân trượt, cẳng xoạc, tay dang ra, tay giơ lên chới với, không có chỗ tựa, không nơi bấu víu vậy mà trong cái thế găy cổ như chơi ấy, bà vẫn ung dung đáp lễ bọn đàn ông cười hô hố chung quanh rằng: Giơ tay với thử trời cao thấp, xoạc cẳng đo xem đất ngắn dài. Khẩu khí ấy mà xuất phát từ miệng một người đàn ông của bất kỳ thời đại nào cũng được coi là ngang tàng, khí phách. Nhưng thốt ra từ miệng một phụ nữ, dù hai trăm năm trước hay bây giờ, vẫn có kẻ cho là "ngang ngược".

   Nếu có một sứ giả của phụ nữ Việt Nam trên văn đàn thế giới, người đó là Hồ Xuân Hương.

   Có một thực tế đau ḷng, là h́nh ảnh người phụ nữ Việt Nam mà người năm châu nhặt được trong những tác phẩm văn học nghệ thuật mà họ có thể thưởng lăm bằng tiếng Anh là h́nh ảnh một cô gái điếm: từ cô Phương trong Người Mỹ thầm lặng của nhà văn Anh Graham Greene, đến những gái bán bar và me Mỹ thấp thoáng và nhan nhản trong tác phẩm những nhà văn cựu binh Mỹ từng tham chiến ở Việt Nam, từ phim Việt kiều làm như Ba mùa đến nhạc kịch rặt Mỹ Miss Sài G̣n, thậm chí tác phẩm kinh điển nhất của văn học Việt Nam được giới thiệu ra nước ngoài là Truyện Kiều, th́ cũng do rào cản ngôn ngữ mà cái trác tuyệt văn chương bị rớt lại, để chỉ c̣n đến với độc giả Tây phương cuộc đời một cô gái lầu xanh! Đôi lần, đến xứ người nói chuyện văn chuơng xứ ḿnh, tôi đều cầu cứu Hồ Xuân Hương, nhưng lực bất ṭng tâm, làm sao với một chút tiếng Anh ngập ngọng, tôi phác họa được một Hồ Xuân Hương độc đáo của Việt Nam, để minh họa niềm tự hào của tôi về người phụ nữ làm văn học Việt Nam?

   V́ vậy không thể nói hết được tôi xúc động và biết ơn như thế nào khi tôi cầm quyển Thơ Hồ Xuân Hương, bản dịch tiếng Anh của John Balaban. Một người bạn, nhà thơ Jo seph Duemer đưa tôi xem khi nó c̣n là bản in thử và chưa chính thức xuất bản ở Mỹ. Sách gồm 48 bài thơ của Hồ Xuân Hương, mỗi bài được tŕnh bày trang trọng dưới ba h́nh thức: bản tiếng Nôm, bản tiếng Việt, và bản tiếng Anh. (John Balaban tự hào rằng, đây là lần đầu tiên thơ Hồ Xuân Hương được xuất bản bằng chữ Nôm, ít ra là ở Mỹ; là thứ chữ mà bà đă dùng để sáng tác cách đây hai trăm năm và hành động đó có ư nghĩa cách mạng trong sự phát triển văn học Việt Nam, v́ phần lớn đàn ông trí thức thời đó đều dùng chữ Hán). Cảm động, tôi lật từng trang, đọc lại những bài thơ ḿnh đă thuộc ḷng từ lâu và nghe những cảm giác mới lạ liên tiếp nảy ra trong ḷng ḿnh. Nhưng một nỗi sợ hăi đột nhiên vỡ ra: bản tiếng Anh này chuyển tải được bao nhiêu "chất Hồ Xuân Hương"?

   John Balaban là một nhà thơ Mỹ mà sáng tác của bản thân ông đă hai lần được đề cử giải thưởng Sách quốc gia và đă đoạt hai giải thưởng uy tín về thơ, điều đó đủ bảo đảm cái ông dịch ra từ thơ Hồ Xuân Hương cũng là thơ ở một mức độ nghệ thuật rung cảm được độc giả Mỹ của ông. Nhưng những độc giả sống ở một xă hội phương Tây mà đề tài sex và đề tài nữ quyền được khai thác thường xuyên dưới muôn h́nh vạn trạng, song lại không có h́nh trạng nào như Hồ Xuân Hương, th́ liệu họ có cảm nhận được Hồ Xuân Hương không, hay đọc bài thơ Ốc nhồi chỉ thấy con ốc nhồi, đọc bài Đèo Ba Dội chỉ thấy cây với đá? Họ có cảm nhận được chăng nỗi chua chát một cách nghẹn ngào trong giọng thách thức đầy mơn trớn: Quân tử có thương th́ bóc yếm, và nỗi tủi hờn pha ngạo mạn trong lời van xin giận dữ: Xin đừng ngó ngoáy lỗ trôn tôi. (John Balaban dịch là: Kind sir, if you want me, open my door. But please don't poke up into my tail. Và giải thích tính song nghĩa của từ "yếm" trong phần ghi chú.) Nhà thơ - dịch giả dùng nhiều chú thích dưới những bài thơ được trích đăng trong tạp chí The American Poetry Review, và trong bài viết dài hơn hai trang báo khổ lớn về Hồ Xuân Hương, ông cố gắng giải thích với độc giả Mỹ về ngôn ngữ Việt Nam, cho một thí dụ "dịch từng chữ ở bài thơ Chơi đền khán xuân bên cạnh bài thơ hoàn chỉnh mà ông đă tái tạo. Câu đầu Êm ái chiều xuân tới khán đài được dịch từng chữ là Peaceful evening spring go pavilion và được thi hóa thành A gentle spring evening arrives (nếu dịch ngược lại câu này sang tiếng Việt là Một chiều xuân tao nhă đến). Đọc đi đọc lại những bài thơ Hồ Xuân Hương bằng tiếng Anh, càng cảm động và khâm phục nỗ lực của John Balaban; và càng nhận ra chữ nghĩa Hồ Xuân Hương không ai theo kịp suốt chiều dài thời gian mà cũng không có tương đương trong b́nh diện không gian. Trong bài Làm lẽ John Balaban dịch chữ Chém chaScrew và giải thích cut father là một tiếng chửi. Nhưng đến câu Cố đấm ăn xôi, xôi lại hỏng. Cầm bằng làm mướn, mướn không công th́ câu tiếng Anh You try to stick to it like a fly on rice but a rice is rotten. You slave like the mai, but without pay nếu được dịch lại tiếng Việt sẽ là Mày cố bám vô nó như một con ruồi đậu dính vô xôi, mà xôi lại hỏng. Mày làm việc quần quật như một con ở, mà không được trả công. Điều chắc chắn là John Balaban thấu hiểu ư nghĩa từng chữ từng câu thơ của Hồ Xuân Hương, nhưng rơ ràng trong tiếng Anh không có tương đương của thành ngữ "Cố đấm" và "Cầm bằng" đặc thù của văn hóa làng xă và tâm thái nông dân ở một đất nước có nền văn minh hàng ngh́n năm trải qua điều kiện thiên nhiên, chính trị, xă hội luôn trắc trở.

   Thơ không phải là cái người ta có thể bắc đồng bỏ lên cân rồi kết luận khiên cưỡng về tính chính xác. Cái hiệu quả luôn luôn ở phản ứng của người đọc. Tôi canh măi đến khi cuốn sách chính thức phát hành ở Mỹ hồi tháng  10-2000, (tựa Spring Essence: The Poetry of Hồ Xuân Hương, Nhà xuất bản Copper Canyon), viết thư bảo bạn bè bên ấy t́m đọc và nói cho tôi biết họ thấy thế nào. Tôi lại đêm đêm lên mạng, canh xem độc giả nói ǵ.

   Một độc giả ở Phoenix, bang Arizona, kư tên G. Merritt viết: Qua thơ ca Hồ Xuân Hương được biết đến tài chơi chữ, óc khôi hài sắc sảo, ḷng khao khát t́nh yêu, nỗi căm giận sự thối nát. (...) Những bài thơ này rất gợi t́nh và khiêu dâm, đầy nghĩa đôi... Balaban đă thành công trong công việc phiên dịch h́nh ảnh Hồ Xuân Hương sang những vần thơ tiếng Anh cộng hưởng với hương sắc mùa xuân. (...) Tuyển tập thơ giàu tính gợi t́nh này khiến tôi hy vọng được đọc thêm nữa. Nỗi thất vọng duy nhất của tôi là được biết quyển sách mỏng trăm trang này chứa "hầu hết những bài thơ hiện c̣n lưu hành của Hồ Xuân Hương". Quyển sách mỏng này tỏa sáng rực rỡ.

  Một bài điểm sách của Jon Spayde bắt đầu bằng câu: Đôi khi sách thực sự thay đổi thế giới. Bài báo dành phần lớn nội dung để nói đến cuộc đời và thơ ca của Hồ Xuân Hương, nỗ lực của nhà thơ - dịch giả Balaban chuyển thể di sản văn hóa này sang tiếng Anh một cách tài t́nh, cùng đóng góp của nhà ngôn ngữ học Ngô Thanh Nhàn ở trường đại học New York, đă đặt ra kiểu chữ Nôm dùng cho máy tính, để việc in ấn dễ dàng, có thể giúp công việc bảo tồn và truyền bá chữ Nôm có nhiều triển vọng hơn. Cuối cùng là thiện chí và công lao của ông chủ biên Nhà xuất bản Copper Canyon, đă ủng hộ nhiệt t́nh và tạo điều kiện cho thơ Hồ Xuân Hương ra mắt ở Mỹ.

   Một số người điểm sách ngoài việc ghi nhận giá trị chấn động (shock value) của quyển Thơ Hồ Xuân Hương, lại tỏ ra dị ứng cái b́a. H́nh ảnh lơa thể của người phụ nữ hai tay nâng một cái mẹt che mặt, theo ông Wiegers chủ biên Nhà xuất bản Copper Canyon, là một ẩn dụ hay cho một nhà thơ nữ mà "thân thế bị ngờ vực suốt lịch sử và bị giai cấp cầm quyền coi thường, nhưng bà và thơ của bà vẫn tồn tại." Vả lại cái b́a rất đẹp. John Balaban th́ nói : Tôi lo lắng đến phản ứng của người Việt Nam đối với cái b́a sách, chứ "Không ngờ người Mỹ lại bị dội v́ cái đó". Ông nói thêm: "Điều đó thật quái đản, bởi v́ suốt cả đời, Hồ Xuân Hương đă đứng lên và bất phục những chuẩn mực đạo đức khắt khe, vậy mà 200 năm sau, bà lại đụng đầu nó tại ngay nước Mỹ này".

   Tôi không biết nhân danh ai trong tám chục triệu người đang có chung nền văn hóa Việt nói thơ Hồ Xuân Hương như uống nước ăn cơm, yêu Hồ Xuân Hương như yêu mẹ, chị, vợ, em, bạn, như yêu ḿnh, để nói cám ơn John Balaban. Tôi xin cảm ơn ông với tư cách một phụ nữ Việt Nam.

LƯ LAN
(Báo Văn nghệ TP Hồ Chí Minh)  

 

Phiếmluận
về thơ
Hồ Xuân Hương

Bắc Giang

Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ
Lại đây cho chị dạy làm thơ

Tôi khôngphải là thisĩ, cũng chẳngphải là ..nhàthơ, pḥng thơ, hay building thơ ǵcả nhưng cứ mỗilần đọc hai câu trên là..tức lộnruột, huyếpáp lên hừnghực. Đấylà tôi đang sống ở một xăhội vănminh của thếkỷ thứ haimươi mốt với quanniệmsống thật phóngkhoáng, cởimở, namnữ b́nhquyền, nếukhôngmuốnnói trọng nữ, khinh nam. Điều làm tôi khóchịunhất là tháiđộ ngạomạn, trịchthượng của tácgiả khi dùng chữ "chị" trong thơvăn của ḿnh, nghe nó ..tức anhách làmsaoấy! Tôi đă đượcđọc rất nhiều thơ từcổ chíkim, từđông sangtây mà chưahề thấy bấtcứ một tácgiả nào dám ..ngôngcuồng như bà Hồ Xuân Hương. Thử tưởngtượng nếu bà Đoàn thị Điểm hay bà Huyện Thanh Quan cũng xưng CHỊ th́ c̣nǵ là thểthống, khuônphép nữa? Ngượclại gịngthờigian vàitrăm năm trước, các cụta với quanniệm cổhủ:

Nhất nam viết hữu
Thập nữ viết vô

 

bà Hồ Xuân Hương đă.. phạmthượng mộtcách nặngnề, nếu có đihọc (bà bỏ học năm 13 tuổi v́ bố mấtsớm) và được đithi chắc bà cũng sẽ cùng sốphận với biếtbao sĩtử thờiđó:

 

Thi không ăn ớt thế mà cay!

V́ đă phạmhúy, phạm trườngqui, dám khinhthựng các cụ ..taito mặtlớn, bằngcấp đầyḿnh, vănthơ lailáng! Điềuđó cũng dễhiểu tạisao là một nữsĩ cótài, cũng có chồng là quan Triphủ (ông Phủ Vĩnh Tường) mà bà khôngđược trọngvọng, ngồi chiếu trên, thơvăn khôngđược làm khuônmẫu giảngdạy trong các trường trunghọc như bà Huyện Thanh Quan, Bà Đoàn thị Điểm. Hơnthếnữa, bà có hai đờichồng là ông Tổng Cóc:

Chàng Cóc ơi! Chàng Cóc ơi!
Thiếp bén duyên chàng có thế thôi
Ṇng nọc đứt đuôi từ đây nhé
Ngàn năm khôn chuộc dấu bôi vôi.

 

và ông Phủ Vĩnh Tường:

 

Trăm năm ông Phủ Vĩnh Tường ơi!
Cái nợ ba sinh đă trả rồi
Chôn chặt văn chương ba thước đất
Ném tung hồ thỉ bốn phương trời
Cán cân tạo hóa rơi đâu mất
Miệng túi càn khôn thắt lại rồi
Hăm bảy tháng trời là mấy chốc
Trăm năm ông Phủ Vĩnh Tường ơi!

 

Mà bà khôngbaogiờ được vinhdự mang tên chồng trong lốixưnghô thôngthường của ngườiViệtnam khi lậpgiathất, hoặc chứctước mà đứcôngchồng đăcó trong xăhội như bà..Tổng Cóc hoặc lịchsự hơn nữa : bà Phủ Vĩnh Tường, cũng như bà Huyện Thanh Quan, mà gọi bằng một cáitên tục cộclốc: Hồ xuân Hương!

Tôi thấy ởđây có sự ..unfair của các cụ thờixưa. Nếu giảdụ bắtđầu ngàyhômnay, từ ḍngchữ này tôi gọi bằng ..bà Tổng Cóc chắc chẳng ai biết tôi muốn nóiđến nhânvật nào trong vănhọcsử Việtnam, mà c̣n làmtṛcười cho thiênhạ! Nóiđến sựnghệp vănchương, phải thúthật, mặcdù các cụta bềngoài không tánthành cholắm nhưng trongḷng vẫn nểphục với lối làmthơ lăngmạn, dídỏm, chuachát, mỉamai, tiếulâm (nếu khôngmuốn nói là hơi..tục), một trườngphái mà bà là Giáochủ mà khôngcó giáodân! Với hai đờichồng đều làm quan lớn, không concái hủhỉ lúc tuổigià, đếnkhi chồng chết lại trắngtay mở quánnước bênđường mưusinh quangày, phải nói bà không những là người vănhay chữtốt mà c̣nlà người biết tựlập, tháovát, khôngphải là những conkưsinhtrùng lúcnhỏ sốngnhờ chamẹ, lớnlên nhờ chồng, chồng chết nhờ con! Trong cuộctranhsống hàngngày, một thângái "dặmtrường" quanhquẩn bên quánnước bà đă gặp biếtbao vănnhân thisĩ đươngthời mượn trà, mượn rượu tántỉnh, suồngsă như trườnghợp ông Chiêu Hổ và đă bị bà chọc xỏ:

 

Anh đồ tỉnh, anh đồ say
Sao anh ghẹo nguyệt giữa ban ngày
Này này chị bảo cho mà biết
Chỗ ấy hang hùm chớ mó tay!

 

Cáihay của thơ là bà đă dùng tên Hổ (tức là Hùm) để chỉ cái "ấy", địa danh không được thanh tao cho lắm! Và cũng cái hay của bà là đă phản kháng một cách mănh liệt rất.. nghệ sĩ!

 

Này này chị bảo cho mà biết
Chỗ ấy hang hùm chớ mó tay!

 

Không như con gái thời nay chỉ biết ..say NO! NO! một cách yếu ớt!

Nói về cuộc t́nh của nữ sĩ với ông Phủ Vĩnh Tường (chỉ vỏn vẹn có 27 tháng) tuy ngắn ngủi nhưng cũng nhiều giai thoại, điển h́nh là trong một ngày ông Phủ vắng nhà, có người đàn bà tên Nguyễn thị Đào đệ đơn lên quan phủ xin ly dị để lấy chồng khác, sau một hồi tra hỏi, lại gặp lúc thi hứng tràn trề, bà phóng bút chấp thuận:

 

Phó cho con Nguyễn thị Đào
Nước trong leo lẻo cắm sào đợi ai?
Chữ rằng "xuân bất tái lai"
Cho về kiếm chút, một mai kẻo già!

 

Tôi thích nhất lối dùng chữ hóm hỉnh, dễ thương của bà trong thơ mà hầu như ít có thi sĩ nào có khả năng đưa vào thơ của ḿnh nếu không có một bộ óc vừa thông minh vừa khôi hài như chữ "khéo khéo" rất ư ..bắc kỳ trong:

 

Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ

 

hay chữ "kiếm chút" nửa úp nửa mở làm cho người đọc phải dùng trí tưởng tượng một cách thích thú trong:

 

Cho về "kiếm chút" một mai kẻo già!

 

hoặc chữ "leo lẻo" b́nh dân, quê mùa. Tôi mở tự điển của Đào Văn Tập, Nguyễn Văn Khôn, Đào Duy Anh.. vân vân và vân vân, cũng không t́m ra chữ "leo lẻo" mà chỉ thấy mấy chữ leo cây, leo trèo, leo lét vô duyên!

Riêng đặc biệt với ông Cống Sinh vừa mới thi đỗ, xin phép làm thịt trâu khao hàng xóm lángg iềng , bà phê trên đơn:

 

Người ta th́ chẳng được đâu
Ừ th́ ông Cống làm trâu th́ làm!

 

Chữ "ừ th́" ở đây lại rất thân mật, giản dị, không khách sáo thường dùng cho những người ngang hàng -- trong trường hợp này bà Phủ Vĩnh Tường cho ông Cống Sinh được ngang hàng về phương diện chữ nghĩa -- khác với trường hợp "con" Nguyễn thị Đào, một đứa nông dân nghèo hèn vô học:

 

Phó cho "con" Nguyễn Thị Đào

 

Nói về tài ứng đối thơ văn của bà, chắc không ai có thể sánh bằng, vừa lanh lẹ, vừa dí dỏm. Truyện kể một hôm nữ sĩ đi chơi gặp trời mưa trượt chân ngă , người lấm lem, chân xơng xoài dưới đất, hai tay giơ lên trời, bạn bè, khách khứa được phen cười thỏa thuê, bà từ từ đứng dậy đọc hai câu thơ chữa thẹn:

Dang tay với thử trời cao thấp
Soạc cẳng đo xem đất vắn dài.

 

Nếu ở trường hợp các cô gái khác, chắc v́ mắc cở sẽ đứng dậy .. khóc ṛng, hoặc bỏ chạy một mạch về nhà mách mẹ! Nhưng thơ Hồ Xuân Hương được nhiều người bết đến và làm đề tài tranh luận từ trăm năm nay không phải là những bài thơ trên mà là những bài thanh-tục, tục-thanh như bài "Quả mít" , " Ốc nhồi", " Đánh đu", " Đèo Ba Dội" ...

Thú thật, nếu bây giờ cho tôi viết tập làm văn với đề tài " tṛ hăy tả quả mít" chắc tôi sẽ..bí tịt chứ chưa cần phải làm thơ tả quả mít! Nữ sĩ chỉ với 4 câu ngắn ngủi đă diễn tả được hết quả mít mà lại c̣n làm cho người đọc liên tưởng đến "những chuyện" thần tiên đă bị.. dồn nén từ bao năm trong tâm khảm:

 

Thân em như quả mít trên cây
Da nó xù x́, múi nó dầy
Quân tử có thương th́ đóng cọc
Xin đừng mắn mó, nhựa ra tay
!

 

Tuyệt vời, tôi chưa thấy ai tả quả mít một cách đầy đủ như vậy, từ da xù x́, đến múi dầy cơm vàng óng. Ngày xưa ở nhà quê ta, các cụ mỗi lần hái quả mít từ trên cây xuống thường lấy cọc tre đóng vào cuống rồi phơi nắng cho nhựa trắng chẩy hết ra mới đem bóc vỏ, lấy từng múi mít béo ngậy thơm phức mà ăn. Hôm nay ngồi đọc thơ Hồ xuân Hương mà thèm rỏ răi! Có một điều lạ là không hiểu tại sao khi tả "quả mít" hay con "ốc nhồi" nữ sĩ đều liên tưởng đến người.. quân tử:

 

"Quân tử" có thương th́ đóng cọc

và bây giờ th́:

Bác mẹ sinh ra phận ốc nhồi
Đêm ngày lăn lóc đám cỏ hôi
"Quân tử" có thương th́ bóc yếm
Xin dừng ngó ngoáy lỗ trôn tôi.

 

Tôi thấy bài này có phần hay hơn bà trên ở chỗ tả một con ốc nhồi đen thui thủi ngày đêm ḅ lê ḅ càng trong đám cỏ hôi tanh, bẩn thỉu mà vẫn có người thương yêu, tŕu mến, dùng tay ngó ngoáy chẳng sợ.. hôi tanh mùi bùn! Người ấy đâu phải là thường dân quê mùa mà lạil à một đấng hiền nhân quân tử! Tôi định xem lại Đạo Đức Kinh để t́m định nghĩa về người quân tử của Đức Khổng Phu Tử nhưng bận quá lại thôi, nhờ các bạn tra khảo hộ xem người QUÂN TỬ có dư th́ giờ làm chuyện bóc yếm, đóng cọc tầm thường ấy không?? Nói đến "bóc yếm" tôi lại nhớ hai câu thơ đă đọc được đâu đó từ thuở nhỏ:

Ngày xưa, ngày xửa, ngày xưa
Mẹ tôi yếm thắm lên chùa đọc kinh

Các cô gái thời xưa thường đeo yếm thắm xanh, đỏ trông rất đẹp mắt trong bộ áo tứ thân với chiếc nón quai thao lộngl ẫy mà có ai đ̣i "bóc yếm" một cách công khai như thế này đâu!! Trở lại chuyện ốc nhồi, ngày xưa c̣n bé tôi ít được ăn ốc nhồi v́ mẹ bảo ốc nhồi nhiều thịt béo ngậy, đắt tiền nên mẹ thường đi chợ mua một rổ ốc mút cả nhà mút x́ xụp vui tai, hơn nữa ăn ốc mút giản dị hơn, chỉ việc cầm cái ḱm nhỏ kẹp bể "cái lỗ trôn" rồi đổ nước mắm gừng pha tí ớt xong, cho lên miệng mút cái .."chụt" là thấy thấm thía đến cả lục phủ ngũ tạng! Tê mê tới tận trời xanh!

Cái ngày c̣n mài đũng quần trong các lớp đệ ngũ, đệ tứ, tôi được học bài "Qua Đèo Ngang" của bà Huyện Thanh Quan, sự thật không có ǵ xuất sắc lắm nhưng muốn có điểm cao cứ phải khen lấy khen để, thực ra bà Huyện thấy ǵ tả nấy, như thấy con cóc trong hang nhẩy ra, ngồi đó, nhẩy đi, rồi lại ngồi đó, th́ làm sao có thể so sánh với bài "Đèo Ba Dội" của Bà Phủ Vĩnh Tường, rất ví von, nhẹ nhàng, thanh thoát, hóm hỉnh, tượng h́nh, tượng thanh. Chúng ta thử theo gót Bà Huyện Thanh Quan đến Đèo Ngang vào một buổi chiều, mặt trời xế bóng, nh́n phong cảnh bao la, hùng vĩ của sông núi, những tia nắng vàng yếu ớt xuyên qua từng kẽ lá phản chiếu trên mặt nước long lanh của một con suối róc rách chẩy, tạo thành một bức tranh sơn thủy tuyệt vời, âm thanh dịu dàng, tâm hồn người thơ như ch́m đắm trong cái đẹp mơ màng của buổi hoàng hôn. Vậy mà Bà Huyện chỉ viết được:

Bước tới đèo Ngang bóng xế tà

 

Nh́n xuống dưới thung lũng thấy cỏ cây hoa lá chen chúc mọc, bà đề:

 

Cỏ cây chen đá, lá chen hoa

 

Xa hơnnữa vài chútiều ốm-o gầyc̣m đang lomkhom làmrẫy:

 

Lomkhom dưới núi tiều vài chú

Chungquanh vài cănnhà lácđác trên bờsông:

Lác đác bên sông chợ mấy nhà.

 

Thú thật tôi chẳng có một tí.. feeling nào hết!! Làm thơ như vậy ai làm mà chả được!! Ta hăy để tâm hồn lắng đọng lại, tưởng tựơng ḿnh đang đi về miền quê ngoạn cảnh, qua miền đồi núi hương thơm ngào ngạt, xa xa con đường đất nhỏ uốn khúc chạy xuyên qua hết đèo này tới đèo khác lên cao bất tận, bà Phủ Vĩnh Tường đă phải dùng ba lần chữ "một đèo" để tả cảnh non nước hữu t́nh trùng trùng điệp diệp này của Đèo Ba Dội:

 

Một đèo, một đèo, lại một đèo
Khen ai khéo tạo cảnh cheo leo

 

Đến đây khách lữ hành xin hăy dừng chân ở một quán nước bên đường uống ly trà xanh nóng hổi, nh́n lại con đường cheo leo vừa trèo lên mà tự khen thầm "ḿnh c̣n dẻo dai lắm chứ! ". Khác với bà Huyện , bà Phủ đến Đèo Ba Dội lúc b́nh minh, mặt trời bừng sáng mở ra một vũ trụ mênh mông tươi mát, tiếng chim hót líu lo trên cành chào mừng một ngày mới, những cánh hoa muôn sắc đua nhau nở rộ như muốn quên đi cơn băol ốc đêm qua, đâu đó c̣n sót lại vài cành thông c̣n rơi tơi tả điểm những giọt sương mai trắng xóa long lanh trên cành liễu u sầu!

 

Lắt lẻo cành thông, cơn gió thốc
Đầm đ́a lá liễu giọt sương mai

 

Ai qua cảnh Đèo Ba Dội nênthơ hữu t́nh như vậy mà không xúc động, làm ngơ cho được:

 

Hiền nhân quân tử ai mà chẳng
Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo.

 

Cũng chẳng phải hiền nhân quân tử , đến như kẻ phàm tục như chúng ta cũng vẫn muốn trèo để thưởng lăm cái đẹp, cái nên thơ của tạo hóa!! Tôi rất tiếc không có tài làm thơ để có thể họa lại bài này, và tôi cũng chưa được đọc bài thơ nào từ đông sang tây tả cảnh " trèo đèo" hay như thế, t́nh tứ , lăng mạn như vậy. Đỗ Phủ, Lư Bạch, Thôi Hiệu .. làm sao sánh bằng! Quả thật thiên tài như Bà Phủ chỉ có một.

Tôi không biết phải viết ǵ để kết luận cho thiên phiếm luận này, khen, chê là công việc của những nhà phêb ́nh văn học nghệ thuật, nhưng dù sao chăng nữa ta cũng thấy sự thiên vị rơ ràng giữa hai bà một Phủ, một Huyện, cái lỗi rành rành của bà Phủ Vĩnh Tường là không chịu theo khuôn phép do các cụ đặt ra cho "nàng thơ" nên mới ra nông nỗi này!

Bắc Giang

 

Cái Quạt

Một lỗ sâu sâu mấy cũng vừa,
Duyên em dính dáng tự bao giờ.
Chành ra ba góc da c̣n thiếu,
Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa,
Mát mặt anh hùng khi tắt gió,
Che đầu quân tử lúc sa mưa.
Nâng niu ướm hỏi người trong trướng,
Ph́ phạch trong ḷng đă sướng chưa?

 

 Đánh cờ người

Chàng cùng thiếp đem khuya trằn trọc

Đét dồn lên, đánh cuộc cờ người

Hẹn rằng đấu trí mà chơi

Cấm ngoại thuỷ không ai được biết.

Nào tướng sĩ dàn ra cho hết

Để đôi ta quyết liệt một phen.

Quan thiếp trắng, quan chàng đen,

Haiquân ấy chơi nhau đà đă lửa.

Thoạt mới vào chàng đă nhảy ngựa

Thiếp vội vàng vén phứa tịnh lên,

Hai xe hà chàng gác hai bên.

Thiếp sợ bí, thiếp liền ghểnh sĩ.

Chàng lừa thiếp đang khi bất ư,

Đem tốt đầu dú dí vô cung.

Thiếp đang mắc nước xe lồng,

Nước pháo đă đổ đùng ra chiếu.

Chàng bảo chịu, thiếp rằng chua chịu,

Thua th́ thua quyết níu lấy con.

Khi vui nước nước non non,

Khi buồn lại giở bàn son quân ngà.

                               

 

Vịnh cảnh đánh đu

 

Bốn cột khen ai khéo khéo trồng

Người th́ lên đánh, kẻ ngồi trông,

Trai ôm gối hạt khom lưng cật.

Gái uốn lưng ong ngửa ngửa ḷng,

 

Bốn mảnh quần hồng bay phất phới.

Hai hàng chân ngọc duỗi song song.

Chơi xuân đă biết xuân chăng tá.

Cột nhổ đi rồi, lỗ bỏ không.

                              

 

Swinging

Praise whoever raised these poles

For some to swing while others watch

A boy pumps, then arcs his back

The sharpely girl shoves up her hips

 

Four pink trousers flapping hard

Two pairs of legs sterched side by side.

Spring games who hasn’t known them ?

Swingposts removed the holes lie empty.

 

Dịch bởi John Balaban trong tác phẩm Spring Essence

do nhà xuất bản Copper Canyon Press, Washington.

 

 

 

Vịnh hang Cắc Cớ

 

Trời đất sinhra đá một cḥm

Nứ làmhai mảnh hỏm ḥm hom.

Kẽ hầm rêu mọc trơ toen miệng.

Luồng gió thông reo vỗ phập pḥm

Giọt nước hữ t́nh rơi lơm bơm

Con đường vô ngạn tối om om.

Khen ai đẽo đá tài xuyên tạc

Khéo hở hang ra lmắ kẻ nḥm.

 

 

Viewing  Cacco-Cavern

 

Heaven and earth brought forth this rocky mass

its face cut by  a deep crevass.

Crack’s dark mount shagged with moss pines rocking in wind rush

Here aweet water spatters down and path into the cleft is dark.

Praise whoever sculpted stone.

Then left it bare for all to see.

 

Dịch bởi John Balaban trong tác phẩm Spring Essence

do nhà xuất bản Copper Canyon Press, Washington.

 


Đánh Đu

        Bốn cột khen ai khéo khéo trồng !
        Người th́ lên đánh kẻ ngồi trông
        Trai du gối hạc khom khom cật
        Gái uốn lưng ong ngửa ngửa ḷng
        Bốn mảnh quần hồng bay phấp phới
        Hai hàng chân ngọc duỗi song song.
        Chơi xuân đă biết xuân chăng tá ?
        Cọc nhổ đi rồi lỗ bỏ không.
         


Thân Phận Đàn Bà

        Hỡi chị em ơi có biết không ?
        Một bên con khóc một bên chồng.
        Bố cu lỏm ngỏm ḅ trên bụng,
        Thằng bé hu hơ khóc dưới hông.
        Tất cả những là thu với vén,
        Vội vàng nào những bống cùng bông.
        Chồng con cái nợ là như thế,
        Hỡi chị em ơi có biết không ?
         

Giếng Nước

        Ngơ ngang thăm thẳm tới nhà ông
        Giếng tốt thanh thơi, giếng lạ lùng.
        Cầu trắng phau phau đôi ván ghép,
        Nước trong leo lẻo một ḍng thông.
        Cỏ gà lún phún leo quanh mép,
        Cá diếc le te lách giữa ḍng.
        Giếng ấy thanh tân ai chẳng biết,
        Đố ai dám thả nạ ḍng ḍng.
         


Lấy Chồng Chung

        Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng,
        Chém cha cái kiếp lấy chồng chung.
        Năm th́ mười họa hay chăng chớ,
        Một tháng đôi lần có cũng không.
        Cố đấm ăn xôi, xôi lại hẩm,
        Cầm bằng làm mướn, mướn không công.
        Thân này ví biết đường này nhỉ,
        Thà trước thôi đành ở vậy xong.
         


Sư Bị Ong Châm

        Nào nón tu lờ nào mũ thâm
        Đi đâu không đội để ong châm ?
        Đầu sư há phải\... "ǵ" bà cốt,
        Bá ngọ con ong bé cái nhầm.
         

Sư Hoang Dâm

        Cái kiếp tu hành nặng đá đeo
        Vị ǵ một chút tẻo tèo teo
        Thuyền từ cũng muốn về Tây Trúc
        Trái gió cho nên phải lộn lèo.

         

        Sư Hổ Mang

        Chẳng phải Ngô mà chẳng phải ta
        Đầu th́ trọc lốc, áo không tà.
        Oản dâng trước mắt dăm ba phẩm,
        Vải nấp sau lưng sáu bảy bà.
        Khi cảnh, khi tiu, khi chũm chọc,
        Giọng h́, giọng hỉ, giọng hi ha.
        Từ lâu có lẽ lên sư cụ
        Ngất nghểu toà sen nọ đó mà.
         


      • Dệt Cửi

        Thắp ngọn đèn lên thấy trắng phau
        Con c̣ mấp máy suốt đêm thâu
        Hai chân đạp xuống năng năng nhắc,
        Một suốt đâm ngang thích thích mau.
        Rộng hẹp nhỏ to vừa vặn cả,
        Ngắn dài khuôn khổ cũng như nhau.
        Cô nào muốn tốt ngâm cho kỹ,
        Chờ đến ba thu mới dăi màu.
         


Mắng Học Tṛ Dốt

        Khéo léo đi đâu lũ ngẩn ngơ ?
        Lại đây cho chị dạy làm thơ.
        Ong non ngứa nọc châm hoa rữa,
        Dê cỏn buồn sừng húc giậu thưa.

 

Khóc Tổng Cóc

        Chàng Cóc ơi ! Chàng cóc ơi !
        Thiếp bén duyên chàng có thế thôi
        Ṇng nọc đứt đuôi từ đây nhé,
        Ngh́n vàng khôn chuộc dấu bôi vôi.

 

          Quả Mít

        Thân em như quả mít trên cây,
        Da nó sù ś, múi nó dày.
        Quân tử có yêu th́ đóng cọc,
        Xin đừng mân mó nhựa ra tay.
         

          Con Ốc Nhồi

        Bác mẹ sinh ra phận ốc nhồi
        Đêm ngày lăn lóc đám cỏ hôi.
        Quân tử có thương th́ bóc yếm
        Xin đừng ngó ngoáy lỗ trôn tôi.
         

          Bánh Trôi Nước

        Thân em vừa trắng lại vừa tṛn,
        Bảy nổi ba ch́m với nước non.
        Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn,
        Mà em vẫn giữ tấm ḷng son.
         

          Mời Trầu

        Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi.
        Nầy của Xuân Hương mới quệt rồi.
        Có phải duyên nhau th́ thắm lại,
        Đừng xanh như lá, bạc như vôi.

         

Đề Đền Sầm Nghi Đống

        Ghé mắt trông ngang thấy bảng treo,
        Ḱa đền Thái Thú đứng cheo leo.
        Ví đây đổi phận làm trai được,
        Th́ sự anh hùng há bấy nhiêu.

 

Cảm cựu kiêm tŕnh Cần chánh học sĩ Nguyễn hầu

    • Hầu Nghi Xuân Tiên Điền nhân

      • Dặm khách muôn ngh́n nỗi nhớ nhung,
        Mượn ai tới đấy gửi cho cùng.
        Chữ t́nh chốc đă ba năm vẹn,
        Giấc mộng rồi ra nửa khắc không.
        Xe ngựa trộm mừng duyên tấp nập,
        Phấn son càng tủi phận long đong.
        Biết c̣n mảy chút sương siu (1) mấy
        Lầu nguyệt năm canh chiếc bóng chong.
         

    (1) sương siu: vấn vương


Trách Chiêu Hổ

Thiếu Nữ Ngủ Ngày


Đèo Ba Dội

        Một đèo, một đèo, lại một đèo
        Khen ai khéo tạc cảnh cheo leo.
        Cửa son đỏ loét tùm hum nóc,
        Ḥn đá xanh ŕ lún phún rêu.
        Lắt lẻo cành thông cơn gió thốc,
        Đầm đ́a lá liễu giọt sương reo.
        Hiền nhân quân tử ai là chẳng ?
        Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo.
         


Động Hương Tích

        Bày đặt ḱa ai khéo khéo pḥm,
        Nứt ra một lỗ hỏm ḥm hom.
        Người quen cơi Phật chen chân xọc,
        Kẻ lạ bầu tiên mỏi mắt ḍm.
        Giọt nước hữu t́nh rơi thánh thót
        Con thuyền vô trạo cúi lom khom
        Lâm tuyền quyến cả phồn hoa lại,
        Rơ khéo trời già đến dở dom.


Kẽm Trống

        Hai bên th́ núi giữa th́ sông
        Có phải đây là Kẽm Trống không ?
        Gió giật sườn non khua lắc cắc,
        Sóng dồn mặt nước vỗ long bong.
        Ở trong hang núi c̣n hơi hẹp,
        Ra khỏi đầu non đă rộng thùng
        Qua cửa, ḿnh ơi nên ngắm lại
        Nào ai có biết nỗi bưng bồng.
         

Vịnh Cái Quạt

        Mười bảy hay là mười tám đây,
        Cho ta yêu dấu chẳng rời tay.
        Mỏng dày từng ấy, chành ba góc,
        Rộng hẹp dường nào, cắm một cay.
        Càng nóng bao nhiêu càng mát nấy,
        Yêu đêm chưa phỉ lại yêu ngày.
        Hồng hồng má phấn duyên v́ cậy,
        Chúa dấu vua yêu một cái này.
         


Không Chồng Mà Chửa

 

Vịnh cảnh đánh đu

 

Bốn cột khen ai khéo khéo trồng

Người th́ lên đánh, kẻ ngồi trông,

Trai ôm gối hạt khom lưng cật.

Gái uốn lưng ong ngửa ngửa ḷng,

 

Bốn mảnh quần hồng bay phất phới.

Hai hàng chân ngọc duỗi song song.

Chơi xuân đă biết xuân chăng tá.

Cột nhổ đi rồi, lỗ bỏ không.

                              

 

Swinging

Praise whoever raised these poles

For some to swing while others watch

A boy pumps, then arcs his back

The sharpely girl shoves up her hips

 

Four pink trousers flapping hard

Two pairs of legs sterched side by side.

Spring games who hasn’t known them ?

Swingposts removed the holes lie empty.

 

Dịch bởi John Balaban trong tác phẩm Spring Essence

do nhà xuất bản Copper Canyon Press, Washington.

 

 

Viewing  Cacco-Cavern

 

Heaven and earth brought forth this rocky mass

its face cut by  a deep crevass.

Crack’s dark mount shagged with moss pines rocking in wind rush

Here aweet water spatters down and path into the cleft is dark.

Praise whoever sculpted stone.

Then left it bare for all to see.

 

Dịch bởi John Balaban trong tác phẩm Spring Essence

do nhà xuất bản Copper Canyon Press, Washington.

 

Autumn Landscape

Drop by drop rain slaps the banana leaves.
Praise whoever sketched this desolate scene:
the lush, dark canopies of the gnarled trees,
the long river, sliding smooth and white.
I lift my wine flask, drunk with rivers and hills.
My backpack, breathing moonlight, sags with poems.
Look, and love everyone.
Whoever sees this landscape is stunned.

 

Note: The poem bag carried by wandering poets and young scholars usually held samples of their poetry and calligraphy.


On Sharing a Husband

Screw the fate that makes you share a man.
One cuddles under cotton blankets; the other's cold.
Every now and then, well, maybe or maybe not,
once or twice a month, oh, it's like nothing.
You try to stick to it like a fly on rice
but the rice is rotten.  You slave like the maid,
but without pay.  If I had known how it would go
I think I would have lived alone.

 

Note: Ho Xuan Huong, like her mother, was a vo le, a concubine, or wife of second rank. Traditionally, Vietnamese women wielded considerable economic and political power, but by 1800 the condition of women had deteriorated as the Vietnamese nation itself began a collapse under domestic and foreign pressures. Many women could choose only between struggling alone or becoming concubines, risking the indignities in this poem. Men, meanwhile, could have many wives. The king was permitted 126 wives iin six different categories, while even a student scholar could have "five concubines, seven wives." See Hoa Bang, Ho Xuan Huong, Nha Tho Cach Mang (Saigon: Gon Phuong, 1950), p. 106. Chem cha ("screw") is a curse, meaning "cut father." Nam thi muoi hoa ("five out of ten times") is a folk expression.


Jackfruit

My body is like the jackfruit on the branch:
my skin is coarse, my meat is thick.
Kind sir, if you love me, pierce me with your stick.
Caress me and sap will slicken your hands.

 

Note: The large, smelly jackfruit can be prematurely ripened by piercing it.


Three-Mountain Pass

A cliff face. Another. And still a third.
Who was so skilled to carve this craggy scene:
the cavern's red door, the ridge's narrow cleft,
the black knoll bearded with little mosses?
A twisting pine bough plunges in the wind,
showering a willow's leaves with glistening drops.
Gentlemen, lords, who could refuse, though weary
and shaky in his knees, to mount once more?

 

Note: Maurice Durand notes that this range is almost certainly the Deo Tam Diep in central North Vietnam where the mountains are calcareous and of a blackish color but, he adds innocently, "I'on n'a pas de grotte avec une grande ouventure." While an actual landscape may have suggested this poem to Ho Xuan Huong, the particular contours--the active pine and willows--comprise a sexual landscape as well. Pines traditionally stand for men; willows, for women.


Weaving at Night

 

Lampwick turned up, the room glows white.
The looms moves easily all night long
as feet work and push below.
Nimbly the shuttle flies in and out,
wide or narrow, big or small, sliding in snug.
Long or short, it glides out smoothly.
Girls who do it right, let it soak

 

Thiếu nữ ngủ ngày

Mùa hè hây hẩy gió nồm đông
Thiếu nữ nằm chơi quá giấc nồng
Lược trúc lỏng cài trên mái tóc
Yếm đào trễ xuống dưới nương long
Đôi g̣ Bông đảo sương c̣n ngậm
Môt lạch đào nguyên suô'i chưa thông
Quân tử dùng dằng đi chẳng dứt
Đi th́ cũng dở ở không xong.


Day Sleeping Girl

Summer breeze is sporadically blowing,
Lying down the young girl slides into sleeping.
Her bamboo comb loosely attached to her hair,
Her pink bra below her waist dropped down fair.
On these two Elysian mounds, the nectar is still remaining,
In that one Fairy rivulet, the current seems to stop flowing.
At such a view, the gentleman hesitated,
Odd to leave, yet inconvenient if he stayed.

 

Dệt cửi

Thắp ngọn đèn lên thấy trắng phau
Con c̣ mấp máy suốt đêm thâu
Hai chân đạp xuô'ng năng năng nhắc
Mô.t suốt đâm ngang thích thiích nhau
Rộng hẹp nhỏ to vừa vặn cả
Ngắn dài khuôn khổ cũng như nhau
Cô nào muốn tốt ngâm cho kỹ
Chờ đến ba thu mớ'i dăi màu

Nightime Weaving

Light turned on, it is found such a white,
The stalk moves slightly and repeatedly all night.
Pushing with the feet, but lightly release,
Shuttle passing through brings joy and ease.
Large or narrow, small or big they all fit,
Long and short, size and form so be it.
To make it best, girl needs to soak it with care .
The cloth color won't fade before three whole years.

 

Vịnh cái quạt

Mười bảy hay là mười tám đây
họ ta yêu dâ'u chẩng rời tay
Mỏng dày chừng ấy, chành ba góc
Rộng hẹp dường nào, cắm một cây.
Càng nóng bao nhiêu thời càng mát
Yêu đêm không phỉ lại yêu ngày
Hồng hồng má phấn duyên v́ cậy
Chúa dấu vua yêu một cái nầy.

The Fan

Are you seventeen or eighteen?(1)
Let me cherish you by all means.
Thin or thick you display a triangle, and
Large or small I hold you with one hand.
The more it is hot the fresher you will submit,
Not enough love at night, daytime will make it.
Your cheeks are rose pink and give you grace,
Lords and kings love you because of your face.

(1): Seventeen or nineteen branches of the fan could be understood as seventeen or eighteen.

Extracted from the book entitled "Egrets on the river " de Mr Lê Thành Khôi.

Thuật ư kiêm tŕnh hữu nhân Mai Sơn Phủ

Hoa phiêu phiêu,
Mộc tiêu tiêu,
Ngă mộng hương t́nh các tịch liêu,
Khả cảm thị xuân tiêu.

Lộc ao ao,
Nhạn ngao ngao,
Hoan hảo tương kỳ tài nhất triêu,
Bất tận ngă tâm miêu.

Giang bát bát,
Thủy hoạt hoạt,
Ngă tư quân hoài tương khế hoát,
Lệ ngân chiêm hạ sát.

Thi tiêu tiêu,
Tâm thiết thiết,
Nồng đạm thốn t́nh tư lưỡng đạt,
Dạ ưng quân bút phát.

Phong ngang ngang,
Nguyệt mang mang,
Phong nguyệt không linh khách đoạn tràng,
Hà xứ thị Đằng vương.

Vân thương thương,
Thủy ương ương,
Vân thủy na kham vọng nhất trường,
Nhất trường dao vọng xúc hoài mang.

Nhật kỳ kỳ,
Dạ tŕ tŕ,
Nhật dạ thiên hoài lữ tứ bi,
Tứ bi ưng mạc ngộ giai kỳ.

Phong phi phi,
Vũ phi phi,
Phong vũ tần thôi thái bút huy,
Bút huy đô thị thi t́nh nhi.

Quân hữu tâm,
Ngă hữu tâm,
Mộng hồn tương luyến liễu hoa âm.

Thi đồng ngâm,
Nguyệt đồng châm,
Nhất tự sầu phân duệ,
Hà nhân noăn bán khâm.

Mạc đàn ly khúc oán tri âm,
Trực tu tri thử dao cầm,
Cao sơn lưu thuỷ văn tương tầm
Ưng bất hận ngâm thán cổ kim.

Quân hà kỳ,
Ngă hà kỳ,
Lữ đ́nh lai đắc lưỡng thê tŕ.

Minh tần phi,
Bút tần huy,
Nhất trường đô bút thiệt,
Hà xứ thị t́nh nhi?
Hảo bằng tâm thượng khách tương tri,
Dă ưng giao thác thử duyên đề,
Phương tâm thệ bất phụ gia kỳ.

Hồ Xuân Hương



Dịch Thơ
Kể ư ḿnh và tŕnh bạn là Mai Sơn Phủ

Hoa xiêu xiêu
Cây xiêu xiêu
Giấc mộng t́nh quê thảy tịch liêu
Đêm xuân cảm khái nhiều

Hươu ao ao
Nhạn ngao ngao
Vui sướng hẹn nhau một sớm nào
Tả hết được t́nh sao!

Sông bát ngát
Nước ào ạt
Ư thiếp ḷng chàng cũng vu khoát
Lệ rơi thêm mặn chát.

Thơ da diết
Ḷng thê thiết
Đậm nhạt tấc ḷng ai thấu hết
Liệu bút chàng tả xiết?

Mây lang thang
Trăng mênh mang
Trăng gió xui ai luống đoạn tràng
Đâu là gác Đằng Vương

Mây tơ vương
Nước như sương
Mây nước trôi đâu chỉ một đường
Một đường xa khuất rộn ḷng thương

Ngày chậm ŕ
Đêm chậm ŕ
Sáng tối chạnh buồn lữ khách si
Nhớ thương đừng lỡ hẹn, sai ḱ.

Mưa trôi đi
Gió trôi đi
Mưa gió gi