PHÁT DIỆM ...

NHÀ THỜ CHÍNH TOÀ PHÁT-DIỆM

MỘT CÔNG TR̀NH THÍCH NGHI PHỤNG VỤ VỀ PHƯƠNG DIỆN

NGHỆ THUẬT ĐI TRƯỚC CÔNG ĐỒNG CHUNG VATICANÔ II  


Đức Ông Trần văn Khả

 

Nhiều bài viết về Nhà Thờ Chính Ṭa Phát-Diệm, cũng gọi là Nhà Thờ Lớn, hay Nhà Thờ Đức Mẹ Rất Thánh Mân Côi, đă phân tích một số khía cạnh liên hệ tới việc xây cất ngôi thánh đường này, cũng như các nhà thờ và cơ sở chung quanh1 . Trong bài này, tôi muốn tŕnh bày một cái nh́n khác về lối kiến trúc ngôi thánh đường thời danh do Cha Trần-Lục đă xây cất cho Phát-Diệm : đó là công cuộc thích nghi phụng vụ trong phạm vi nghệ thuật.

 NHÀ THỜ LỚN PHÁT-DIỆM

Trong khi tŕnh bày về nghệ thuật kiến trúc tại Việt-Nam tác giả Đức Cha Celso Costantini đă lấy Nhà Thờ Lớn Phát-Diệm làm tiêu biểu 43 . Ở đây chúng tôi muốn tŕnh bày lối kiến trúc ngôi thánh đường này trong cái nh́n vào khía cạnh thích nghi phụng vụ về phương diện nghệ thuật.

1. Dịp gợi hứng

Cha Trần-Lục đă nuôi ư định thực hiện công tŕnh này từ năm 1866. Khi Đạo Công Giáo được tự do, Đức Cha Chiêu (Mgr Theurel), Giám mục giáo phận đă sai Cha vào yết kiến Vua Tự-Đức tại kinh đô Huế để xin Vua trả lại làng Vĩnh Trị cho người công giáo 44 . Làng này đă bị tàn phá, các giáo hữu phải tản mát sang các làng bên lương ở chung quanh. Trong khi chờ đợi để được vào triều yết Nhà Vua, Cha lợi dụng thời gian này để đi quan sát các đền đài, lăng tẩm Nhà Vua, được xây cất một cách cực kỳ lộng lẫy 45 . Cha Trần-Lục tự hỏi ḿnh trong dịp này như sẵn một v́ Vua trần thế th́ ở trong một ngôi đền lộng lẫy như thế, mà Vua Trên Trời lại không ở một ngôi nhà như vậy ? 46 . Từ cuộc thăm viếng này, đă nảy ra nơi ngài ư định xây một ngôi đền thờ theo kiểu kiến trúc dân tộc Việt-Nam, như các đền đài lăng tẩm ở Huế để dâng kính Thiên Chúa, dâng kính Mẹ Maria và các Thánh. Nhà thờ này cũng được xây để giữ trọn lời hứa của ngài là xây một nhà thờ kính Thánh Tâm Chúa Giêsu và Mẹ Maria trong khi ngài bị tù ở Lạng-Sơn và khi coi xứ Phát-Diệm47 . Từ ư định nguyên thủy này, việc xây cất toàn khu Nhà Thờ Lớn Phát-Diệm đă được bổ túc thêm về sau, theo một dự án xây cất đồ sộ và lớn lao hơn.

Rồi từ mẫu kiến trúc á đông của Nhà Thờ Lớn Phát-Diệm, một số nhà thờ khác của Giáo phận Phát-Diệm đă bắt chước một số bộ phận trong công tŕnh kiến trúc của ḿnh 48 .

2. Thời gian chuẩn bị vật liệu (1873-1883)

Để thực hiện công tŕnh kiến trúc vĩ đại này, Cha Trần-Lục đă phải bỏ ra 10 năm chuẩn bị: lo dọn đất đai cho thích hợp, chuẩn bị mua sắm vật tư xây dựng cho đủ. Công việc này ngày nay người ta phải nhờ tới một hay một nhóm kiến trúc sư thực hiện, một số nhà buôn bán vật tư tính toán cho đủ. Vào thời Cha Trần-Lục, Ngài đă có thể hỏi một số người chuyên môn. Tuy nhiên thật khó kiếm ra những người chuyên môn tại một vùng đất tân bồi49 , nơi đó việc xây dựng nhà cửa chỉ toàn bằng vật liệu thô sơ. V́ thế Cha Trần-Lục đă phải tự ḿnh tính toán và thu xếp công việc.

Ngài đă thực hiện việc chuẩn bị theo các giai đoạn sau đây :

- quyên góp tiền bạc : đây là vấn đề khó khăn, v́ dân chúng nghèo túng. Nhưng Cha đă muốn chính họ góp công góp của vào việc xây cất nhà của Chúa và cũng là nhà cầu nguyện của họ. V́ thế Ngài đề nghị năm mỗi gia đ́nh đóng góp 10 kư gạo vào công việc50 ; cũng có một số làng nhớ công ơn giúp đỡ của Ngài cho họ, nên cúng ruộng đất cho Cha thực hiện công việc này51 . Vào thời đó không có việc tài trợ giúp từ bên ngoài.

- chuẩn bị vật liệu : vấn đề thứ hai c̣n gay cấn hơn, đó là lo sắm làm sao vật liệu cho đủ. Vào thời đó không có phương tiện chuyên chở, xây cất, cần trục và các phương tiện tân kỳ khác như thời đại ngày nay. Người ta cần những khối đá từ 7 đến 8 thước khối , với trọng lượng khoảng 20 tấn. Phải chuyên chở các khối đá này từ 30, 50 cây số ở xa về, như từ Thiện-Dưỡng; hoặc các cây gỗ từ BếÔn-Thủy (Vinh, cách Phát-Diệm 200 cây số)52 . Rồi các phiến gỗ lớn cũng phải chuyên chở về như vậy 53 . Lúc này Cha Trần-Lục phải dùng trí để tính toán và lợi dụng các yếu tố thiên nhiên bên ngoài, như sức nước, ḍng sông, thủy triều lên xuống. Ngài đă lợi dụng tất cả cho việc xây cất các thánh đường tại Phát-Diệm.

3. Việc xây cất

Tại Phát-Diệm, vào năm 1862 chỉ có một ngôi nhà tranh, rồi một nhà thờ khác rộng hơn (năm l871) 54 . Năm 1865 Cha Trần-Lục được cử làm Cha xứ giáo xứ Phát-Diệm. Khi ngài đến Phát-Diệm, th́ đây chỉ là một băi bùn lầy đầy những cói và sậy 55 . Cha đă xây dựng xứ đạo và Nhà Thờ Lớn Phát-Diệm trên cơ sở tầm thường này.

Việc xây cất được thực hiện theo hai giai đoạn : giai đoạn xây cơ sở và các nhà thờ chung quanh, và giai đoạn xây cất chính ngôi Nhà Thờ Lớn56 .

Năm 1875, để xem móng đất có vững chắc đủ hay không - bởi v́ vùng Phát-Diệm là vùng đất tân bồi - Cha Trần-Lục đă cho thử xây "Núi táng xác", cũg gọi là "Núi Calvariô = Núi Sọ". Kết quả được nhận định là rất khả quan. Móng đất rất vững chắc. Do đó việc xây cất các nhà thờ được tiến hành.

Khi thấy đất khá vững chắc, Cha Trần-Lục bắt đầu xây cất ngôi Nhà Đức Mẹ Maria. Nhà thờ này được xây cất theo lời khấn của Cha khi Ngài c̣n ở trong tù tại Lạng-Sơn. Người ta cũng gọi nhà thờ này là Nhà Thờ Đá, v́ tất cả đều bằng đá. Nhà thờ dài 18 thước, rộng ngang 9 thước và cao 5 thước.

Năm 1889, Cha Trần-Lục tiếp tục xây Nhà thờ kính Thánh Tâm Chúa Giêsu. Nhà thờ này được xây cất toàn bằng gỗ lim. Nhà thờ dài 25 thước, rộng ngang 12 thước và cao 9 thước. Cửa chính nhà thờ này được chạm trổ rất đẹp và được đưa sang triển lăm bên Paris. Ngoài ra chúng ta phải kể tới các nhà thờ khác cũng được lần lượt xây cất, như nhà thờ kính thánh Giuse, nhà thờ kính thánh Phêrô, nhà thờ kính thánh Gioan Tiền Hô hay kính thánh Rocô, rồi Phương-Đ́nh với tháp chuông; và ba hang đá.

Năm 1891, Cha Trần-Lục cho xây Nhà thờ kính Đức Mẹ rất thánh Mân Côi, cũng gọi là Nhà Thờ Lớn, và bây giờ là Nhà Thờ chính ṭa Phát-Diệm. Nhà thờ này đă được thánh hiến năm 199157 . Nhà thờ được xây cất theo kiểu á đông, pha kiểu gô-tích 58 . Để làm cho nền được vững chắc, người ta phải chôn xuống nhiều cây tre và đổ xuống thật nhiều đá. Nhà thờ dài 74 thước, cao 16 thước và rộng ngang 21 thước59 . Có 48 cột gỗ lim lớn, trong đó 16 cây cột ở giữa có chu vi mỗi cột là 2 thước 35, cao 11 thước và nặng 7 tấn. Trên mỗi cột có khắc tên Đức Mẹ và tên Thánh Cả Giuse. Nhà thờ có 9 gian ; gian cung thánh, gian kiệu và 7 gian khác. Mái ngói hai tầng.

Gian kiệu cũng là cửa chính của Nhà thờ : có 4 cửa nhỏ và một cửa lớn ở giữa. Trên cửa giữa, có hai phiến đá lớn chồng lên nhau. Mỗi phiến dài 4 thước 20 phân, chiều cao 1 thước 50 phân; chiều rộng 75 phân. C̣n phiến kia có chiều kích như sau ; 2 thước 10 phân chiều dài; 1 thước 20 chiều cao và rộng 60 phân. Trên cửa chính có chạm trổ 15 mầu nhiệm mân côi. Ở đây có để cỗ kiệu trang trí rất mỹ thuật.

Gian cung thánh toàn chạm trổ trên gỗ theo kiểu á đông, với mây, tre trúc, và các biểu hiệu á đông khác 60 . Trên gỗ có chạm vàng và các chất kim loại khác làm cho lộng lẫy hơn và mầu sắc cũng như các nét nghệ thuật vẫn c̣n rực rỡ sau 100 năm cho tới ngày nay. Cách trang trí này luôn thấy trong đền vua 61 , hoặc tại các Chùa tại Việt-Nam 62 . Ngoài Ảnh Đức Mẹ Mân Côi, Thánh Đaminh và Thánh nữ Catarina, cũng như các Thiên Thần, Cha Sáu đă để lại nét đậm của Giáo Hội tại Việt-Nam, tức là việc ghi khắc chân dung 6 vị Tử Đạo Việt-Nam : Thánh Nữ Anê Đê, tức Lê-Thị-Thành, người Phúc-Nhạc, Phát-Diệm (tử đạo 12-7-1841, hiển thánh 19-6-1988); Thánh Micae Hồ-Đ́nh-Hy, quan Thái Bộc (tử đạo 22-7-1857, hiển thánh 19-6-1988); Thánh Phêrô Cao (Pierre Rosa Ursula Borie, Giám mục phó Giáo Phận Tây Đàng ngoài, trong đó có Phát-Diệm, tử đạo 24-11-1838, hiển thánh, 19-6-1988); Thánh Phaolô Phan-Khắc-Khoan, Cha xứ Phúc-Nhạc (tử đạo 28-4-1840, hiển thánh 19-6-1988); Thánh binh sĩ Nicola Bùi-Đức-Thể (tử đạo 13-6-1839, hiển thánh 19-6-1988); Thánh Micae Nguyễn-Huy-Mỹ, lư trưởng làng Vĩnh-Trị (tử đạo 12-8-1838, hiển thánh 19-6-1988) 63 . Trên các tường có 14 chặng đàng thánh giá chạm trên gỗ, với nghệ thuật khá tinh vi. Ở phía cùng nhà thờ, có tượng Đức Mẹ Maria. Đây là công tŕnh kiến trúc rất đặc sắc. Bàn thờ bằng một phiến đá dài 3 thước, rộng 81 phân và cao 80 phân. Ngày nay có đặt một bàn thờ khác ở giữa gian cung thánh, cũng bằng một khối đá duy nhất, được thánh hiến ngày 7 tháng 10 năm 1991. Nói về bàn thờ này Bà Yvonne Schultz viết trong tạp chí Illustration, ngày 9-11-1929 như sau :"Các Ngài hăy ngắm cả cái bàn thờ chính đục nổi chạm bóng mà sơn son thiếp vàng chói lọi ... có lẽ khắp hoàn cầu, không có những nhà thờ nào rực rỡ như trong nhà thờ ở Phát-Diệm, trùng trùng điệp điệp những bức cuốn, càng vào trong càng lộng lẫy" 64 .

Viết về Cha Trần-Lục, tác giả Celsi Costantini (s.t.d.) đă nói như sau:"Cha Trần-Lục không muốn làm cho các tân ṭng bỡ ngỡ bị mất gốc, khi cho hủy bỏ phong tục khác thường, nhưng Ngài biết làm cho họ yêu thích sự khiêm nhường kitô gíáo...".

Công tŕnh xây cất cuối cùng là Phương-Đ́nh, ở trước Nhà Thờ Lớn. Đây là công tŕnh kiến trúc theo kiểu á đông và dựa theo quan điểm thần học : nhà vuông với kích thước gần bằng nhau : chiều ngang 24m, sâu 17m và cao 25 m; mái cong, 4 tháp chuông khác ở bốn góc, tháp ở giữa cao 25 thước 65 . Cách xếp đặt này có tính cách thần học, v́ phương đ́nh là con đướng đẫn vào yết kiến các thần. Trên là lầu chuông, với quả chuông nặng gần hai tấn do Giáo xứ Phát-Diệm dâng cúng với hàng chữ ghi "Phát-Diệm xứ cống vật", cao 1 thước 90, đường kính là 1 thước 10. Ở giữa treo một trống cái thật lớn 66 , cao 1 thước 90,đường kính là 1 thước 10.

4. So sánh với các công tŕnh kiến trúc khác trong Nước

Khi nói tới thích nghi phụng vụ về khía cạnh nghệ thuật chúng ta nên nhớ rằng việc thích nghi này phải thỏa măn hai nhu cầu : nhu cầu văn hóa và nhu cầu tôn thờ, hay nhu cầu thờ phượng, nhu cầu đức tin công giáo.

Về nhu cầu văn hóa và truyền thống dân tộc, chúng ta công nhận với tác giả Hoàng-Xuân-Việt là công tŕnh kiến trúc tại Phát-Diệm nổi tiếng khắp nơi trong Nước và ngoài Nước, cũng như đă được Bộ Văn Hóa công nhận là Di tích lịch sử văn hoá, là v́ đây là một công tŕnh kiến trúc đại qui mô và có giá trị nghệ thuật cao của Cha Trần-Lục. Đàng khác theo lời Oạng Việt, th́ khi Cha Trần-Lục thực hiện các công tŕnh kiến thiết này, Cha làm truyền thống, làm văn hóa 67 . Điều này đă được Kỹ sư Hoàng-Nghĩa-Lược tóm kết về giá trị công tŕnh kiến trúc của quần thể nhà thờ Phát-Diệm như sau :"Với vậỳt liệu và kết cấu cổ truyền, kiến trúc Nhà thờ chính cũng như các nhà thờ các Thánh và cả Phương-Đ́nh đều mang đậm nét dáng dấp các đ́nh chùa cổ Nước ta, dáng dấp kiến trúc truyền thống Việt-Nam, có sự kết hợp ăn ư các mô-típ kiến trúc gô-tích tôn giáo Phương Tây. Trong sự kết hợỳp đó, các mô-típ kiến trúc gô-tích đều được cải biến"68 . Chúng ta thử xem cái giống của toàn khu kiến trúc Phát-Diệm với các công tŕnh kiến trúc khác trong Nước, nhất là với các Chùa cổ và các dinh thự tại Việt-Nam. Trong cuốn Kỷ Yếu Phát-Diệm 1891-1991 một cách thoáng qua, người viết đă đưa ra một số điểm so sánh giữa một vài cơ sở kiến trúc của Phát-Diệm, với một số kiến trúc cổ khác tại Việt-Nam; nhưng tác giả không đi sâu vào việc phân tích chi tiết : như so sánh hai tháp đá của Nhà Thờ Đá với Tháp Bút của Đền Ngọc Sơn Hà-Nội 69 , hoặc so sánh Phương-Đ́nh với tháp của Chùa Trăm Gian ở Hà Tây 70 . Nh́n chung, th́ cũng có phần nào giống nhau giữa các công tŕnh được so sánh. Nhưng, có lẽ chúng ta cần nh́n vào nét chính của cung điện ở Huế và đường nét kiến trúc ở Phát-Diệm.

Tại Huế, chúng ta có thể đưa ra một số nhận xét sau đây về các công tŕnh kiến trúc nghệ thuật :

1- Đây là một công tŕnh xây dựng lớn và có quy mô, cũng như có tính cách nghệ thuật cao, được coi như một đúc kết văn hóa, nghệ thuật vững chắc cho các thế hệ sau, trước khi họ bước vào một nhăn quan mới về khoa học cũng như các ngành khác của văn minh hiện đại. V́ thế Huế tiêu biểu cho nghệ thuật cổ truyền Việt-Nam, và trở thành di sản văn hóa thế giới từ năm 1993 71 . Tại Huế, chúng ta có Điện Thái Ḥa, Ngọ môn, Lầu Ngũ Phụng, Điện Cần Chánh, Điện Càn Thành, Lầu Tử Phương Vô Sự, Khu Thế Miếu, Cột Cờ, Điện Ḥa Khiêm, Cửa Thể Nhân, Lầu Bát Giác, Thái B́nh Ngự Lâm Thư Lầu, Miếu môn, Hiển Lâm Các, Đốc Hựu Môn, Hưng Miếu, Duyệt thị đường, Bảo tàng cổ vật, Cung diên thọ, Cổng cung trường sinh, Trường du tạ, Cửa Hiển nhơn, Quốc tử giám, Viện cơ mật, Văn Miếu, Văn bia, Đỉnh thương bạc, Phú văn lâu, Nghênh lương đỉnh, Chùa Thiên Mụ, Hồ Tỉnh Tâm, Đàn Nam Giao, Cổng Trai cung Cầu Ngói Thanh Toàn, Chùa Diệu đế, Chùa Quốc ân, Chùa Thuyền Tôn, Chùa Tây Thiên Cổng Chùa Từ hiếu, Chùa Bảo quốc, Chùa Từ Đàm, Nhà thờ Phú Cam, Nhà thờ ḍng Chúa Cứu thế, Trường quốc học, Lăng Gia long, Lăng Minh Mạng, Trung đạo kiều Lăng Triệu Trị, Lăng Tự Đức, Lăng Kiến Phúc, Lăng Đồng Khánh, Lăng Kiên Thái Vương, Lăng Khải Định72 . Trừ các Chùa và Nhà thờ, tất cả các cơ sở khác đều được xây cất để phù hợp với công việc hành chánh, hoặc văn hóa và lăng tẩm chôn cất các v́ vua.

2- Nhận xét thứ hai : đây là một công tŕnh xây dựng với đường lối nghệ thuật khá cao: người ta có thể nh́n vào từng v́ cột, từng mái góc cong, từng cánh cửa , v́ là do ư muốn của nhà vua đường thời, v́ khả năng tài chánh có thể giúp thực hiện các công tŕnh kia.

Tại công tŕnh xây dựng ở Phát-Diệm, chúng ta cũng nhận thấy hai điểm trên đây. Quần thể Phát-Diệm cũng bao gồm có Nhà Thờ Lớn và 4 nhà thờ khác ở chung quanh : Nhà thờ Trái Tim Đức Mẹ, Nhà Thờ Trái tim Chúa Giêsu, Nhà Thờ Thánh Phêrô và Nhà Thờ Thánh Rocô (=Nhà Thờ Thánh Gioan Baotixita), với 3 núi đá : Hang Belem, Hang Núi Sọ và Hang Lộ-Đức, một Phương-Đ́nh, một tượng đài Chúa Giêsu Làm Vua. Quần thể kiến trúc này tuy là ít, nếu so sánh với quần thể kiến trúc tại Kinh thành Huế, nhưng cũng đă nói lên một tổng thể đáng kể, nhất là về phương diện nghệ thuật kiến trúc. Ở Phát Diệm, Cha Trần-Lục xếp đặt và kiến thiết theo một mục đích rơ ràng, đó là để dùng vào việc phụng thờ Thiên Chúa. Ngoài ra ở đây, Cha Trần-Lục cũng ḥa hợp các yếu tố như nước, như các phiến đá, các cơ sở hữu ích.

Nh́n vào Phương-Đ́nh ở Phát-Diệm, chúng ta thấy có nét vẻ hao hao giống Miếu môn của Huế, hoặc Đốc Hựu môn, hoặc Cổng cung trường sinh, hoặc Cửa Thiên môn, hoặc Đại Hồng Môn (Cổng vào lăng Minh mạng), hoặc Chùa Thiên Trù 73 . Tuy nhiên Phương-Đ́nh Phát-Diệm có ba tầng, và tầng mặt đất có 5 cửa (ngũ quan); sau đó tầng trên mới có 3 cửa (tam quan) và lầu chuông. Kích thước Phương-Đ́nh ( = Nhà Vuông ) được ghi nhận như sau : chiều ngang 24 mét, sâu 17 mét, cao 25 mét. Tầng dưới lớn nhất, có ba ḷng, trong mỗi ḷng có một sập đá; sập đá ở ḷng giữa to nhất, là một khối đá dài 4m20, rộng 3m20 và dày 0m30. Người ta có thể nghĩ tới Long Sàng (sập rồng) bằng đá trước đ́nh tại Đền Vua Đinh (thế kỷ 17-18) 74 ; hoặc Sập Rồng ở giữa sân tại Đền Vua Lê, Thanh Hóa gần núi Yên Mă. 75 .

Chúng ta biết rằng việc xây cổng tam quan (hoặc ngũ quan) thường được hiện trong các công tŕnh kiến trúc nghệ thuật tại các cơ sở hoặc các chùa chiền tại Việt Nam, như Cổng tam quan của Chùa Một Cột, Hà-Nội 76 , hoặc Tam Quan tại Chùa Láng,Hà-Nội 77 , hoặc Tam quan tại Chùa Quán Sứ, Hà-Nội 78 hoặc Tam quan tại Chùa Báo Quốc (1674), Thừa-Thiên, Huế 79 , hoặc Tam Quan Chùa Linh sơn Đông thuyền (giữa thế kỷ 18), Thừa Thiên, Huế 80 , hoặc Tam Quan, tại Chùa Thiên Aăn, Quảng-Ngăi 81 ; hoặc Tam Quan, tại Thiền viện Trúc-Lâm, Lâm-Đồng 82 . Tại Chùa Hương, chúng ta có Nam Thiên Môn với tam quan và có hai tầng lầu 83 . Kiến trúc ngũ quan được thực hiện tại Chùa Pháp-Vân (thời Lư), Hà-Nội 84 ; hoặc Tam quan Chùa Từ-Hiếu (giữa thế kỷ 19), Thừa- Thiên, Huế 85 và tại nhiều chùa khác.

Người ta cũng thấy những lầu chuông tại các Chùa có thể gợi hứng cho Phương-Đ́nh Phát Diệm, như Đại Hồng chung của Chùa Cổ Lễ 86 , hoặc tháp chuông của Chùa Keo, Thái-B́nh 87 ; Lầu chuông tại Chùa Huyền thiên, Hà-Nội88 .

Nh́n vào trong ḷng Nhà Thờ Lớn, chúng ta cũng nhận thấy cái hao hao giữa ngôi thánh đường này và nội thất của các ṭa nhà hoàng cung Huế. Các hàng cột chạy thẳng từ trên xuống dưới (sáu hàng cột xếp theo 8 hàng dọc, tất cả là 48 cột gỗ lim). Chúng ta hăy so sánh các hàng cột này với các hàng cột của Điện Thái Ḥa, của Điện Khoa Khiêm, của Thế Miếu, của Lầu Ngũ Phụng tại Hoàng cung Huế. Người ta cũng có thể nghĩ tới lối chạm trổ trên các cột này như tại hàng cột của Đền Vua Lê, Yên Mă, Thanh-Hóa 89 . Việc trang trí các v́ kèo cũng cho thấy nét giống của Nhà Thờ Lớn Phát-Diệm và một số kiến trúc ở nơi khác 90 . Rồi nh́n vào kích thước của Ngôi Nhà Thờ Lớn, với chiều cao của Nhà Thờ lớn Phát Diệm là 16 thước, chiều dài là 80 thước và chiều ngang là 21 thước. Khi so sánh kích thước Nhà thờ này với các ṭa nhà dài tại Hoàng cung Huế, chúng ta cũng phải nhận thấy một sự gần gũi giữa hai quần thể kiến trúc. Chúng ta nên lưu ư là tại các ngôi Chùa cổ, sự xếp đặt ngôi Chùa thường chia làm 3 phần : gian giữa để bàn thờ Kính Đức Phật, ở hai gian hai bên và các gian kế cận dùng cho các tín đồ đến cầu kinh, hoặc các phần vụ khác. Như vậy việc xử dụng ngôi Chùa được thể hiện theo các gian chiều ngang, trừ một ngôi Chùa ở Sàigon, tức là Chùa Giác Hải (1887), trong đó bàn thờ Kính Đức Phật đuợc đặt ở gian cuối ṭa nhà, chứ không ở gian giữa như trong các Chùa khác .

Các cửa tại các ngôi nhà thờ ở Phát-Diệm cũng được chạm trổ công phu theo nghệ thuật kiến trúc á đông 92 . Chúng ta so sánh với những cánh cửa chạm trổ tinh vi tại các cơ sở kiến trúc khác ở Việt-Nam, sẽ nhận ra cái giá trị nghệ thuật cao của công tŕnh thực hiện tại Phát-Diệm và mức độ thích nghi trong phạm vi nghệ thuật của công tŕnh kiến trúc này 93 .

Song song với việc xây cất các ngôi thánh đường tại Phát-Diệm, chúng ta c̣n có các sáng kiến thích nghi phụng vụ khác trong phạm vi nghệ thuật, như việc làm cỗ kiệu chạm trổ "thông phong" dùng trong buổi đi kiệu tại Phát-Diệm đă có từ 100 năm nay 94 .Rồi ṭa giải tội được chạm trổ với h́nh cây trúc thay v́ tấm màn che ngăn như trong các ṭa giải tội thường thấy ở các nơi khác 95 .

Nhu cầu thờ phượng của Công Giáo

Trên đây chúng ta đă nói tới việc thích nghi phụng vụ trong phương diện nghệ thuật kiến trúc được nh́n theo nhu cầu văn hóa và theo nhu cầu tôn giáo. Với việc so sánh công tŕnh kiến trúc toàn thể Khu Phát-Diệm do Cha Trần-Lục thực hiện, với công tŕnh kiến trúc của quần thể Kinh thành Huế, mà Cha đă có cảm hứng từ đó, và với việc kiến thiết các Ngôi Chùa Cổ tại Việt-Nam, - tuy việc so sánh này rất thiếu sót - chúng ta đăƯ nhận ra rằng, Cha Trần-Lục đă cố gắng thỏa măn nhu cầu văn hóa qua việc gợi hứng theo các đường nét cổ truyền trong nghệ thuật kiến trúc Việt-Nam, trong việc dùng các vật tư thường được dùng trong công cuộc kiến thiết này. Như vậy Cha đă cống hiến cho giáo hữu của Cha có được cảm tưởng là họ không phải xa lạ với văn hóa Việt-Nam khi họ theo Chúa Kitô, khi họ theo Kitô Giáo, khi họ đến nhà thờ cầu nguyện96 . Cha đă thành công trong phạm vi này. Các nhận xét từ trong Nước hay từ ngoài Nước, như chúng ta đă nhiều lần nhắc lại trong bài này, cũng như trong tập sách này, về lối kiến trúc của Phát-Diệm chứng minh rơ ràng điều trên đây.

Tuy nhiên việc thích nghi như vậy chưa đủ, trái lại công tác này c̣n phải nhắm vào việc làm thỏa măn nhu cầu thờ phượng của Kitô giáo mà các ngôi nhà này được kiến thiết. Và dung ḥa hai nhu cầu văn hóa và tôn giáo của công tác xây dựng này đă làm nên cái đặc biệt của sự nghiệp Cha Trần-Lục để lại cho chúng ta. Chúng ta có thể nói, công tŕnh này tự nó phải được nh́n riêng một ḿnh nó (sui iuris). Điều mà chúng ta sẽ tŕnh bày dưới đây.

Vậy Cha Trần-Lục đă thỏa măn nhu cầu tôn giáo như thế nào trong công tŕnh kiến thiết các ngôi nhà thờ tại Phát-Diệm ?

Chúng ta xét theo các điểm sau đây :

- Cha loại bỏ những ǵ không phù hợp với đức tin Kitô giáo như Công Đồng chung Vaticanô II dạy: "Bất cứ những ǵ trong tập tục, không liên quan mật thiết với dị đoan và lầm lạc, đều được Giáo hội mến phục với thiện cảm, và nếu có thể, c̣n được bảo tồn trọn vẹn. Hơn nữa, đôi khi những tập tục đó c̣n được Giáo hội nhận vào trong phụng vụ, miễn sao ḥa hợp với những nguyên tắc của tinh thần phụng vụ đích thực và chân chính" 97 . Thay v́ xử dụng chiều ngang Nhà thờ Lớn như trong trường hợp các chùa chiền, thường dùng gian giữa làm bàn thờ, làm chính điện, c̣n Cha đă xử dụng chiều dài, tức là một đầu là cửa đi vào, và phía cuối nhà thờ là bàn thờ. Thay v́ đường nét trang trí ḷe loẹt là đường nét đơn sơ hợp với tinh thần phụng vụ rôma , ta xem các cột của Nhà Thờ Lớn 98 và so sánh với các hàng cột tại các cung điện ở Huế 99 ; thay v́ con ở đầu các mái cong, như tại các mái của các đền đài100 hoặc các chùa 101 , Cha cho đặt vào một hoa văn theo kiểu gô-tích bên Aạu Châu. Cha không dùng biểu hiệu con rồng102 , có lẽ lư do là v́ con rồng trong Kinh thánh được coi như là thù địch với Thiên Chúa và với nhân loại; v́ thế cha bỏ đi v́ có thể gây hoang mang nơi giáo hữu103 . Đây là đường lối giáo dục khôn ngoan của Giáo hội là thực hiện những thích nghi, những cải cách từ từ, để không làm tổn thương đến đức tin của tín hữu khi họ chưa vững vàng trong đức tin. Xin trưng dẫn một thí dụ : vào thời kỳ đầu, Giáo hội đă không dùng hương trong phụng vụ, v́ đó là biểu hiệu của việc chối đạo trong thời kỳ cấm đạo trong đế quốc Rôma. Măi về sau khi tâm trạng người ta cho việc dùng hương là một cử chỉ tôn kính, cầu nguyện, chỉ khi đó, Giáo hội mới đưa hương vào trong phụng vụ.

- Cha xử dụng các yếu tố cổ truyền vào việc tôn thờ : tam quan là, số 3, số 7, số 9 là con số đầy đủ, trọn vẹn; rồi dùng các biểu hiệu cổ truyền Việt-Nam, như hoa văn, các biểu hiệu cây trúc, con phượng; Cha cho vào đó các biểu hiệu kinh thánh, phụng vụ kitô, Lời Chúa, thánh giá, ảnh tượng Đức Mẹ và các thánh, như để thánh hóa các nơi này. Một Phương-Đ́nh với cây Thánh giá trên đỉnh tháp chuông, việc đặt tượng bốn thánh sử chép bốn Sách Phúc âm , sẽ cho thấy sự hiện diện của Kitô giáo tại đây. Rồi qua thánh giá, cơ sở mà trước đây được xây dựng cho các xử dụng khác như tại các Chùa, các đ́nh làng, nay được xử dụng vào việc tôn thờ Thiên Chúa.

- Cách xếp đặt tất cả quần thể khu Phát-Diệm, cũng cho thấy cái ư nghĩa kitô giáo trong đó : từ ngoài vào là ao hồ, với tượng Chúa Giêsu làm vua , sau đó lá Phương-Đ́nh, Nhà Thờ Lớn; hai bên Nhà Thờ Lớn, có 4 Nhà nhà khác (2 Nhà thờ bên trái kính Thánh Giuse và thánh Phêrô; 2 Nhà thờ bên phải Trái Tim Chúa Giêsu và kính Thánh Rôcô) . Sau Nhà thờ Lớn là 3 Hang đá. Tác giả Hoàng-Xuân-Việt104 cống hiến khách hành hương và du ngoạn Phát-Diệm hai lối nh́n về toàn cảnh Phát-Diệm : đó là lối nh́n theo một tựa điểm từ ngoài vào trong và về hai bên Nhà Thờ Lớn; cách nh́n thứ hai là theo lịch sử và theo nội dung thần học của một cơ sở.

Khi nói về cách xếp đặt các nhà thờ tại Phát-Diệm, người ta tự hỏi, sao lại có nhiều nhà thờ như vậy ? Tại sao Cha Trần-Lục không tập trung tất cả sức lực vào việc xây dựng chỉ Nhà Thờ Lớn mà thôi ? Trả lời câu hỏi này là chúng ta t́m ra ư nghĩa của việc xây cất này, đó là thỏa măn nhu cầu tôn giáo của giáo dân và của chính Cha. Các ngôi nhà thờ này thực hiện các lời khấn hứa của Cha với Chúa và với Đức Mẹ. Đàng khác việc xây cất 4 ngôi nhà thờ bên cạnh với các tước hiệu khác nhau, là để biểu lộ một niềm tin vào các chân lư của đạo, như mầu nhiệm thánh thể, mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi, ḷng tôn sùng Đức Mẹ và các thánh. Đàng khác mỗi nhà thờ cũng được xử dụng cho các dịp , các nhóm tín hữu khác nhau.

5. Suy tư về công tŕnh thích nghi phụng vụ trong phạm vi nghệ thuật kiến trúc do Cha Trần-Lục thực hiện tại Phát-Diệm

Khi tŕnh bày công việc hội nhập Tin mừng vào các nên văn hóa, Giáo Hội lưu tâm các người có trách nhiệm trong vấn đề này về ba thái độ sau đây : trước tiên phải có thái độ đón nhận và phân biện với óc phán đoán (accueil et discernement critique); thái độ thứ hai : phải có khả năng nhận ra các mong chờ thiêng liêng và các khát vọng của con ngựi nơi các nền văn hóa mới; và sau cùng phải có mức độ phân tích văn hóa ngơ hầu t́m gặp thế giới ngày nay một cách hữu hiệu105 . Sau khi đă tŕnh bày công tŕnh xây dựng Nhà Thờ Lớn Phát-Diệm dưới khía cạnh thích nghi phụng vụ trong phạm vi nghệ thuật, chúng ta sẽ đưa ra một số nhận định về hội nhập Tin Mừng vào nền văn hóa Việt-Nam dưới ánh sáng các chỉ dẫn của Giáo Hội như được tŕnh bày trong các văn kiện trên đây.

a) Văn hóa Việt-Nam là một văn hóa mở rộng

Đọc lịch sử Dân tộc Việt-Nam nhận ra đây là một dân tộc cương quyết trong việc bảo tồn nền độc lập của ḿnh qua các thời đại, nhưng đồng thời lại hết sức hiếu ḥa, mở ra đón nhận các nền văn hóa khác, từ Bắc xuống hay từ phía Nam tới. Tất cả được tiếp nhận trong tinh thần trân trọng và chọn lựa những yếu tố hay đẹp của văn hóa khác để làm giầu cho văn hóa ḿnh. Như vậy Văn hóa Việt-Nam không phải là văn hóa đóng kín và cứng nhắc. Lư do của sự cởi mở này có lẽ là do vị thế địa dư đặc biệt của giải đất Nước Việt, tiếp giáp với đường biển đi lại của tàu bè, rồi đường đất từ phía tây, phía bắc. Qua công tŕnh tiếp thu văn hóa phía Bắc và phía Nam, rồi Phật Giáo từ phía Tây đưa vào, Dân tộc Việt-Nam đă đón nhận và làm cho trở thành của ḿnh, và có lúc đă coi như là của riêng ḿnh, như việc coi Phật giáo làm quốc giáo trong thời Lư - Trần106 . Về phương diện văn chương chúng ta có hai trường hợp tiếp nhận thật điển h́nh : đó là việc thành h́nh Chữ Nôm và việc thành h́nh Chữ Quốc Ngữ tại Việt Nam, một hiện tượng tiếp thu văn hóa và thẩm nhập văn hóa bên ngoài một cách tài t́nh, mà không sợ mất gốc. Trong bối cảnh đó Kitô giáo đă đến và hội nhập vào xă hội Việt-Nam trong sự kính trọng và cống hiến phục vụ. Trong những giai đoạn đầu, Kitô giáo có gặp những sức đối kháng mạnh mẽ, nhưng dần dần công việc hội nhập kitô giáo được thể hiện một cách b́nh thường như các tôn giáo khác đang hiện diện tại Việt-Nam107 . Công tŕnh kiến trúc quần thể Phát-Diệm biểu hiện cho việc hội nhập về phía Kitô giáo và việc tiếp nhận từ phía văn hóa Dân tộc. Đàng khác nơi văn hóa Việt-nam, người ta nhận thấy có một khát vọng các giá trị siêu nhiên, linh thiêng, bàng bạc trong các việc thực hành tôn giáo b́nh dân của cuộc sống 108 . V́ thế, khi các tôn giáo từ bên ngoài vào, đều được chấp nhận, v́ nhờ tôn giáo mà các niềm tin này được thỏa măn và được thăng hoa. Kitô giáo đă đáp ứng lại khát vọng thâm sâu trên đây của Văn hóa Việt-Nam.

b) Kitô giáo trân trọng đón nhận văn hóa Việt-Nam và đóng góp làm phong phú văn hóa Việt-Nam.

Kitô giáo là tôn giáo mặc khải cứu rỗi đi đến với các dân tộc và trân trọng quư mến các truyền thống, văn hóa các Dân tộc109 . Do đó Kitô giáo đến với Dân tộc Việt-Nam, không như một tôn giáo ngoại lai, nhưng là một tôn giáo sẵn sàng đi vào sinh hoạt văn hóa của Dân tộc Việt-Nam, như phạm vi nghệ thuật mà chúng ta vừa tŕnh bày trên đây. Các tôn giáo khác đến với Dân tộc Việt-Nam đă đi vào con đường này trước đó. Và đó là niềm hiên ngang của của họ, Kitô giáo đến với Dân tộc Việt-Nam cũng có được niềm hiên ngang tự hào trên đây. Các tôn giáo vốn dĩ bảo tồn cái sắc thái riêng của ḿnh, nhất là về phương diện thần học và đạo lư, và điều này đôi khi nảy sinh ra một sự xung khắc có tính cách bên ngoài, nhưng dần dần sự xung khắc này đă biến tan đi v́ có sự đối thoại, có sự tiếp nhận các giá trị tinh thần thiêng liêng của tông và của Văn hóa Việt-Nam. Kitô giáo nói chung và Công giáo nói riêng đă và đang đi vào con đường đối thoại, tiếp nhận các giá trị văn hóa chân chính của Dân tộc Việt-Nam, đồng thời cũng cống hiến cho Dân tộc Việt-Nam những chân lư vĩnh cửu, những chân lư đem lại ơn cứu rỗi và những giá trị tinh thần, luân lư để làm giầu cho Văn Hóa Việt-Nam. Những chân lư trường cửu và giá trị tinh thần của Kitô giáo, không thể đồng hóa với một nền Văn hóa nào, như khi đến với các nền văn hóa Tây phương, hoặc các nền văn hóa vùng Địa trung hải, các vùng Cận đông, các Dân tộc Đông Aạu, hoặc tại Phi Châu, Á Châu, Mỹ Châu..., nhưng có tính cách phổ quát và vĩnh viễn.

c) Trong công việc kiến trúc quần thể Nhà Thờ Lớn Phát-Diệm,

Cha Trần-Lục là một con người rất Việt-Nam và rất công giáo. Cha Trần-Lục thật là một người Việt-Nam trong tất cả cuộc đời của ngài. Điều này được thể hiện qua các ăn mặc của ngài, qua việc tham gia và chia sẻ trách nhiệm dân sự với các cấp chính quyền thời đó. Ngài không ở ngoài sinh hoạt của Dân tộc, nhưng lo cho dân sinh, cho vận nước. Ngài hănh diện v́ là người Việt-Nam và phản ứng khi bị coi khinh trong tư thế là người Việt-Nam110 . Như vậy Cha Trần-Lục làm văn hóa, truyền thống Việt Nam, đóng góp vào việc làm lịch sử Việt-Nam. Điều này được mọi người công nhận, trong Nước, như các ân thưởng từ các vua, các quan, rồi từ phía các người ngoại quốc. Quần thể nghệ thuật kiến trúc Phát-Diệm là một di tích văn hóa của Dân tộc là một chứng cớ.

Đồng thời nơi Cha Trần-Lục nhận ra một đức tin kitô giáo rất vững vàng và trong sáng, đến nỗi ngài đă bị bắt v́ đức tin này, ngài mong mỏi được phúc chết v́ đức tin này, trong tư cách là một tín hữu và một linh mục. Trong khi hội nhập đức tin kitô vào văn hóa Việt-Nam trong phạm vi sáng tác ca vè và kiến thiết thánh đường, ngài luôn để cho đức tin đó chiếu tỏa ánh sáng của ḿnh ra. Như vậy đức tin và văn hóa cùng chung nhau trong việc tôn thờ Thiên Chúa duy nhất111 . Về điểm này chúng ta không cần nói nhiều v́ tự con người linh mục của ngài đă nói lên tất cả.

Để kết luận tôi xin trưng dẫn lời Đức Cha Nguyễn-Bá-Ṭng, Giám mục Phát-Diệm và là Giám mục tiên khởi Việt-Nam, đă nói về Cha Trần-Lục như sau :"Năm 1865, cụ Sáu được cử lên chức Chính-Xứ xứ Phát-Diệm. Vài năm sau cơn giông tố, nỗi lo sợ đă qua, sự thái b́nh yên tĩnh trở lại, cái tên Trần-Lục, tức là tên thực, tên bộ của cụ Sáu, sau khi đă tỏ ḷng can đảm trong những cơn tai biến nguy hiểm và trong những lúc chịu các nhục h́nh , cái tên Trần-Lục ấy, một ngày khác, sẽ vang lừng; chúng ta sẽ thấy cụ Trần-Lục là một nhà kiến trúc, một vị quan cai trị và một nhà ngoại giao... Trên những kim khánh của nhà vua gửi thưởng cho cụ, có khắc những câu như sau :"Lời nói của cụ làm cho ai nấy tín nhiệm. Cụ làm cho khắp chốn được thái b́nh. Cụ là người tài giỏi biết giáo dục dân chúng và đem hạnh phúc cho họ. Cụ là người ngay thẳng có một"... Dễ thường có kẻ tưởng rằng : Cụ Sáu là một người hoạt động như thế, th́ có thể nào lại làm đầy đủ được những bổn phận của một vị thày cả. Những người tưởng như thế là lầm. Cụ Sáu là một vị thày cả rất hoàn toàn. Nhà thờ của Cụ được phép đầu tiên giữ Ḿnh Thánh. Cụ lấy việc kính thờ Thánh Thể làm cái căn bản cho việc hành động trong xứ" 112 .

Ghi lại lời nhận xét trên đây của Đức Cha Nguyễn-Bá-Ṭng, chúng tôi muốn từ đó đề cao cái nh́n sâu rộng của Cha Trần-Lục trong phạm vi thích nghi nghệ thuật vào trong việc tôn thờ Thiên Chúa duy nhất và chân thật. Là một linh mục Cha sống chức vụ tư tế một cách xác tín và giúp các giáo hữu sống tâm t́nh tôn thờ Thiên Chúa. Như vậy Cha đem họ vào liên hệ tôn giáo căn bản của con người trước Thiên Chúa. Nhưng để việc tôn thờ này có được nét vẻ Việt-Nam, Cha đă lợi dụng chính các yếu tố cổ truyền của nghệ thuật Việt-Nam, đem vào trong việc xây dựng Nhà Chúa, Nhà Thờ, Nhà cầu nguyện Thiên Chúa. Nhờ đó con người tín hữu Việt-Nam đạt tới mức độ cao trong liên hệ của ḿnh đối với Thiên Chúa, nhưng đồng thời họ lại luôn thể hiện hành động tôn thờ Thiên Chúa trong cách thế và nét vẻ Việt-Nam. Đó là công việc thích nghi phụng vụ kitô giáo vào nghệ thuật Việt-Nam; đó là sự đóng góp của nghệ thuật Việt-Nam trong việc tôn thờ Thiên Chúa. Việc làm của Cha Trần-Lục có giá trị lịch sử v́ đă để lại một công tŕnh nghệ thuật vĩ đại và đáng giá; nhưng đồng thời lại là một lời mời gọi các thế hệ tiếp theo ngài trong công cuộc thích nghi kitô giáo và phụng vụ kitô giáo vào trong văn hóa và phong tục Việt-Nam, và như thế là tiếp tục "làm văn hóa". Giá trị nghệ thuật thật đáng ghi nhận, nhưng giá trị giáo huấn mời gọi của Ngôi Nhà Thờ Lớn Phát-Diệm, c̣n ư nghĩa hơn cho con cháu Phát-Diệm và cho tất cả những ai ngày nay đặt chân đến viếng Nhà Thờ Lớn Phát-Diệm, như lời Đức Cha Bùi-Chu-Tạo, Giám Mục đương kim của Phát-Diệm đă phát biểu trong bài giảng Khai mạc năm kỷ niệm 100 năm mừng Nhà Thờ Phát Diệm (7-10-1990) :"Phần chúng ta cũng phải nối tiếp Truyền Thống cha ông để để bảo vệ Đền Thánh ấy, để truyền lại cho con cháu muôn đời mai sau"

Ngoài ra xin vào website sau đây để đọc bài viềt rất gia trị của Micheal Mckittrick

http://www.thingsasian.com/goto_article/article.812.html#top

 

 

 

Nói về bài Phát Diệm Ca

DS Lê Đ́nh Ngân

    Khi bài ca này ra đời, tôi c̣n bé loắt choắt. Không biết do đâu, tôi thuộc bài này. Những lúc cao hứng, nhất là lúc buồn nhớ quê hương, tôi hay í a một vài câu. Hôm rồi, trong lúc họp bàn với một số anh chị em Phát Diệm, tôi cao hứng hát một vài câu; Trà Lũ nghe được, yêu cầu tôi ghi lại. Tin tưởng anh ruột Lê Hữu Mục của tôi sẽ tiếp tay, tôi nhận lời, và sự thật quả như tôi đă nghĩ. Xin ghi lại cuộc điện đàm.

 

    A lô a lô! Anh Mục đấy hả? Em được biết anh rất thuộc bài hát Phát Diệm, cho em hỏi tí xíu về bài hát này được không?

     - Bài ǵ là bài hát Phát Diệm? Làm ǵ có bài đó! Chỉ có bài Phát Diệm Ca của thầy thôi!

     - Anh chắc là của thầy không? Sao bên Mỹ có người viết báo nói rằng bài ấy là của cụ Lại Thế Uy? Anh có biết cụ Uy đó không?

    - Biết chứ, cụ Cửu Uy đó mà! Là anh bác Chánh Vọng, ông nội bác sĩ Lại Thế Hưng.

     - Tại sao người ta lại cho bài hát ấy của cụ Cửu Uy?

    - Có thể là họ không biết rơ đầu đuôi.

    - Vậy anh cho em biết thầy làm bài đó vào lúc nào?

    - Lúc đó anh lên 10, thích làm thơ và nhạc; đă có bài đăng trên báo của sư huynh Francois nên anh biết rơ những ǵ liên quan tới thơ và nhạc. Về cụ Cửu Uy, anh rất thích cụ v́ cụ hay đọc thơ anh, và dĩ nhiên là cụ khen, khen để khuyến khích thằng bé ấy mà. Cụ Cửu học rộng, biết nhiều, đă chỉ dẫn cho anh rất kỹ lưỡng về kỹ thuật làm thơ. Nhưng tuy giỏi làm thơ mà cụ lại không biết làm lời ca. Đó là một chuyện rất thường, v́ biết bao thi sĩ nổi tiếng như Hàn Mặc Tử hay Thế Lữ mà có làm lời ca bao giờ đâu! Cụ Uy lại có tiếng hát rất hay, cụ thường hát và thầy đệm đàn.

    C̣n thầy, về Hán học có lẽ thầy chỉ suưt soát cụ Cửu, nhưng về chữ Nôm và văn Nôm th́ thầy hơn hẳn. Cho đến bây giờ, anh vẫn có cảm tưởng là thầy c̣n dạy anh được mà. V́ giỏi Nôm, nên thầy hay làm thơ Nôm và viết lời ca bằng chữ quốc ngữ. Ngoài bài Phát Diệm ca ra, thầy c̣n đặt lời ca cho nhiều điệu nhạc cổ nữa.

 Ngân:

- Bài Phát Diệm ca thầy làm vào dịp nào?

 Mục:

- Vào dịp Đức Cha Ṭng chính thức làm Giám mục địa phận Phát Diệm.

 

- Nam nào ?

 

- Khoảng 1935, khi em lên một tuổi. Anh Mục trả lời

 

- Anh đưa ra những lư do nào để chứng thực bài đó là của thầy?

 

- Anh biết bài đó là của thầy cũng như anh biết bài Ave Maria là của Hàn Mặc Tử. Làm sao có thể lầm lẫn được. Đây nhé:

      Khi thầy viết bài đó, thầy dùng bàn viết của anh, thầy lấy bút của anh, giấy cũng xin của anh nốt, rồi thầy ngồi thầy viết. Viết đến đâu thầy hát thử lên đến đó, rồi lại viết, lại sửa. Có chỗ c̣n cho anh góp ư nữa. Làm xong, thầy sang chơi cụ Cửu Uy, có lẽ để khoe với ông bạn quư. Sau đó, hai cụ dắt nhau về nhà, giục mẹ làm cơm. Ăn xong thầy lấy đàn nguyệt ra, lên dây, rồi cụ Cửu Uy cất tiếng hát. Hát xong rồi lại sửa nữa. Anh nhớ câu đầu: "Vui đâu bằng nơi Phát Diệm", cụ Cửu không đồng ư, cụ nói: Xứ Phát Diệm th́ phải nói là "xứ" chứ tại sao lại "nơi"? Thầy nhất định giữ chữ "nơi" và bảo anh hát thử. Anh hát xong, thầy hấm hứ: "Đấy, thấy không?" Sau này anh mới hiểu tại sao hai cụ lại bàn căi nhiều về chữ "nơi". Về tính chính xác, th́ dùng từ "nơi" để gọi xứ Phát Diệm là sai. Nhưng về nhạc th́ phải dùng từ "nơi" mới chỉnh. Cụ Cửu đứng về từ mà nói, thầy th́ đứng về nhạc mà chọn lời, ai cũng có lư cả. Sau này, khi hát bài đó, có khi anh hát là "nơi" Phát Diệm, cũng có khi anh nhớ lời cụ Uy mà hát là "xứ" Phát Diệm.

    Thầy đă đưa anh vào hát cho Đức Cha Ṭng nghe trong toà Giám mục. Hôm ấy có cả ông sứ Chatel. Anh hát xong, ông sứ có bắt tay anh và thầy, tác giả bài hát. Hôm ấy cũng có anh Huỳnh, anh Nhường và mấy nhạc sĩ nữa, họp thành một ban nhạc nhỏ phụ họa cho anh. Đáng lẽ hôm ấy thầy nên phụ họa bằng đàn nguyệt hay đàn tranh th́ hay hơn.  

Ngân: Anh có kỷ niệm ǵ về bài ca này không?

Mục:  Nhiều lắm! Tỉ dụ, thầy Francois cho biết là bài ấy đă được hát ở La Mă cho Đức Giáo Hoàng nghe.

Thôi nhé, anh có hẹn với bạn và họ đến kia rồi. Có ǵ lần sau.

Note: DS Lê Đ́nh Ngân và GS Lê Hữu Mục (cựu GS Đại Học Huế) là anh ruột của nhà thơ Hồng Vũ Lan Nhi..

 

 

Vài chi tiết về

Người và Việc của  Phát Diệm

Nguyễn Minh Châu sưu tầm

Vào đời Vua Minh-Mạng, có một vị quan ưu-tú, học-vấn uyên-thâm, mặc-dầu lận-đận trong đường thi-cử (măi 45 tuổi mới thi đậu và ra làm quan) nhưng đă làm một kỳ-công cho hậu-thế.  Đó là Cụ Nguyễn Công Trứ.  Từ vùng đất bồi, cụ chọn một số gia-đ́nh từ Nam-Định sang lập-nghiệp tại vùng này và lập ra quận Kim-Sơn, Tiền-Hải trù-phú: địa-linh, nhân-kiệt!  Riêng Quận KIM-SƠN, nơi đă đào-tạo ra rất nhiều nhân-tài cho tổ-quốc cũng như cho Giáo-hội Công-Giáo. 

-        Về tôn giáo: Đặc biệt nhất là Cha Sáu Trần Lục, người đă được triều đ́nh Huế phong làm Khâm Sai ba tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An và Hà Tĩnh, Ngài cũng là người kiến trúc quần thể nhà thờ Phát Diệm.

      PD đă đóng góp cho Giáo Hội Công Giáo một Hồng Y (Cardinal) và 13 Giám Mục (Bishops) và gần ngàn linh mục, tu sĩ.  Sau đây là vài vị sinh quán ở PD hay từng sống tại PD: Đức Hồng Y Phạm Đ́nh Tụng (Yên Mô), ĐC Phan Đ́nh Phùng (Kiến Thái), ĐC Lê Hữu Từ (Ḍng Châu Sơn Nho Quan), ĐC Phạm Ngọc Chi (Tôn Đạo), ĐC Bùi Chu Tạo (Phúc Nhạc), ĐC Phạm Tần (Phúc Hải), ĐC Phạm Văn Dụ (Phát Kiệm), ĐC Lê Quư Thanh (tu ở PD) ĐC Nguyễn Thiện Khuyến (Chánh xứ PD), ĐC Nguyễn Phụng Hiểu (Quân Triêm), ĐC Nguyễn Minh Nhật (Thượng Kiệm), ĐC Nguyễn Ngọc Yến (Đương Kim GM PD), ĐC Nguyễn B́nh Tĩnh (Hướng Đạo) (ĐN)…

-        Về chính trị: Khu tự trị PD đă là một chốn an toàn để các nhà cách mạng, chính trị gia và dân trí thức ẩn náu khỏi nanh vuốt Việt Minh và Pháp trong khoảng 1945-1954: Trong những người đă từng ẩn náu ở đây, có thể kể Ông Ngô Đ́nh Nhu, BS Trần Kim Tuyến, Nhạc sĩ Nguyễn Hiền, Nhạc Sư Phạm Duy, Ông bà cựu Đại Sứ Trần Văn Chương…. Ngoài ra cũng có rất nhiều vị gốc PD đă đóng góp nhiều cho đất nước trong chính trường và quân đội VNCH như: Thương Nghị Sĩ Nguyễn Gia Hiến, Thượng Nghị Sĩ Vũ Ngọc Ánh, Trung Tướng Nguyễn Bảo Trị...

-        Về văn hoá: PD đă cung cấp rất nhiều nhạc sĩ, bác sĩ, luật sư, giáo sư nổi tiếng như Nhạc trưởng Hải Linh, Nhạc trưởng Ngô duy Linh, Nhạc Trưởng Phạm Văn Huyến, Nhạc Trưởng Lê Như Khôi, nhà văn Trà Lũ, GS Nguyễ Đức Hiệp của trường Cao Đẳng QP Hoa Kỳ, LS Tạ Văn Tài…

 

Một vài nhân vật tài hoa trong vùng Phát Diệm trong khoảng thời gian (1900-1954):

* Đức Cha Nguyễn Bá Ṭng: Vị Giám Mục Công Giáo đầu tiên của VN và của Phát Diệm. Ngài có biệt tài về hùng biện, về diễn thuyết và Ngài viết rất hay về Văn Chương Việt Nam và Văn chương Pháp.

* Đức Cha Lê Hữu Từ: vị Giám mục suất thân từ ḍng khổ tu Châu Sơn, từng là Cố vấn tối cao của chính phủ Việt Minh, nhưng sau khi biết rơ về con người của Hồ chí Minh và đảng Cộng Sản VN th́ Ngài lại là người lănh đạo chống việt Minh hăng say nhất. Giám mục PD từ 1945 tới 1954.

* Linh mục Hoàng Quỳnh, tổng tham mưu trưởng quân đội Tư Vệ của Phát Diệm, chết trong tù Cộng Sản.

* Ông Bộ Thọ: chuyên đặ lời Việt cho các bài thánh ca Pháp và Gregorian

* Ông Hoành  đen: người am hiểu về ca hát nhất PD thời đó. Ngoài việc dậy hát cho học tṛ trường Thầy Ḍng (Lasan). Ông là một chuyên viên viết các sách nhạc khổ lớn (cỡ 60 cm X 1 mét hay 20”x 25”) để ca đoàn có thể cùng đọc và hát. Ông dùng một cây bút bằng tre to bàng chiếc đũa cả (bản rộng bằng ngón tay cái người lớn). Ông viết rất nhanh và đều như in.

* Ông Chánh Trọng: Hội Trưởng Hội Kèn Tây PD và Huấn Luyện viên cho các nhạc công. Con trai ông tên Vọng sau này là một người chơi clarinette rất nổi tiếng.

* Bà Nghị Hổ: bà chánh hội ca đoàn  suất sắc nhất của PD. Bà có công sưu tầm và phổ biến những bài hát đạo tiếng Việt đầu tiên tại VN. Trong đoàn của bà có hai giọng ca hay nhất vùng là bà thơ Xứng và bà cố Minh (mẹ ông cựu thương nghị sĩ Vũ Ngoc Ánh).

* Ông Phán Hóa: Người rất hăng say trong công việc tôn giáo và xă hôi. Ông cũng là thân sinh của 4 linh mục và 2 nữ tu: Lm Trần Phúc Long, Lm Trần Phúc Nhân, Lm Trấn Phúc Vỵ , Lm Trần Phúc Hạnh tức nhạc sĩ Vinh Hạnh.

* Ông  Phan Kư tức Ông Phan Như Ngọc, chánh trương, người đă đóng góp rất nhiều trong việc phát triển PD. Ông Phán Hoá và Ông Phan Kư là hai người được Giáo Hội Công Giáo tưởng thưởng những huy chương và phẩm phục cao quư nhứt của Giáo Hội.

Ông Bá Kư: thân sinh ông Nguyễn Duy Vỡi, tức Ông Hai Vỡi  Một người giầu có tiếng của PD với những dinh thự rải rắc khắp cả PD.

* Ông Cửu Uy: là một trong vài người nổi tiếng nhất về văn học của Phát Diệm. Học cao, hiểu rộng, đặc biệt về Hán Học, ông c̣n có biệt tài về hội họa và viết chữ đại tự đẹp. Ông là anh ông Chánh Vọng, ông nội BS Lại Thế Hưng

* Ông Cửu Diễm: Là con của một phú gia lâu năm tại PD, có tên là Ông Bà Thơ Diệm. Ông Cửu Diễm là một lương-y mát tay và cũng là một trong những người nổi tiếng về văn học của PD. Ngoài việc am tường chữ Hán, ông c̣n rành chữ Nôm. Ông Cửu Diễm chuyên về lối hát cổ truyền nhưng v́ rành chữ Nôm nên ông hay làm thơ Nôm và viết lời ca bằng chữ Quốc ngữ.  Ông cũng c̣n đặt lời ca cho nhiều điệu nhạc cổ nữa. Ông có thể chơi được nhiều nhạc khí, nên các con ông được thừa hưởng cái hiểu biết này. Ban nhạc sinh viên đầu tiên của ĐH Hà Nội vào thập niên 50 đều là con trai của cụ Cửu Diễm. Các con ông rất nổi tiếng sau này như: GS Lê Ngọc Huỳnh (CVA), Lm Lê Huy Bảng (Giám Dốc Ḍng Chúa Cứu Thế), DS Lê Như Khôi, ngoài bằng cấp Dược Sĩ, ông đă đỗ đầu trong kỳ thi tốt nghiệp nhạc trưởng toàn quốc và làm nhạc trưởng Quân Khu I (SG) rồi làm Chỉ Huy Phó Bô Chỉ Huy Quân Nhu của VNCH, KS Lê Đăng Khoa (GĐ Công  ty dầu săng ESSO VN), GS Lê Hữu mục (ĐH Huế & ĐH Dalat), TT Lê Ngọc Linh (Trung Tâm Phó Lực Lượng Đặc Biệt, Trưởng Khối Huấn Luyện Quân Sự Cục quân Huấn), DS Lê Thị Hồng, DS Lê Đ́nh Ngân, … và cô út Lê Hồng Diệp tức nhà thơ Hồng Vũ Lan Nhi.

* Ông Cửu Quắc: cũng là người có tiếng tăm văn học của PD, rất sành âm nhạc, giỏi hát cô đầu, ông rất thân thiết với một linh mục đa tài Nguyễn Văn Thích của xứ Huế. (Cha Thích có rất nhiều công sáng tác ca nhạc cho nhi  đồng khi ngài là tuyên uư cho trựng Lasan Pellerin Huế). Các con ông cửu Quắc cũng rất nổi tiếng như: cựu nghị sĩ VNCH Vũ Ngọc Ánh, BS Vũ Ngọc Oành…

* Ông Chánh Hoan:  Rất giỏi về âm nhạc, có hai cô con gái ca sĩ nổi tiếng là ca sĩ Thanh Hằng (Ban Trùng Dương) và ca sĩ Ngọc Hà, vợ của Nhạc sư Lê Văn Khoa.

* Ông Giáo Huệ: chánh hội ca đoàn hùng hậu nhất, hát hay nhứt của PD. Ông là thân sinh của cựu Thuợng Nghị Sĩ Nguyễn Gia Hiền của VNCH trước 1975.

* Ông Giáo Nhuận: nhạc phụ Trung tướng Nguyễn Bảo Trị

* Ông Ngô tử Hạ: Chủ nhà in đầu tiên của PD, Dân Biểu Quộc Hội đầu tiên của VN. Cháu ông là BS Phạm Quư Điểu

 

 

 

 

Phat Diem Cathedral

Located 130 kilometres south of Hanoi and 28-kilometres southeast of Ninh Binh, Phat Diem Cathedral was built between 1875 and 1899 and consists of a network of ponds, lakes, churches, and artificial caves.

Phuong Dinh Church, part of the Phat Diem complex, is a giant building entirely made of stone. Numerous stone sculptures are on the inside and outside walls. A large bell cast in the 1890s weighing nearly two tonnes is found in the bell tower.

Phat Diem Cathedral was built in 1891 with four roofs and six sets of iron wooden pillars. On both sides of the church are four smaller churches of different styles. On the extreme north corner are three stone caves. The most beautiful of these caves is Lo Duc cave. Phat Diem Cathedral is the centre of Catholicism in north Vietnam and also a tourist site attracting foreign and domestic visitors.

The cathedral of Phat Diem seems to have changed very little since Graham Greene described its ..gigantic pillars formed out of single trees and the scarlet lacquer work of the altar, more Buddhist than Christian" in his 1955 classic The Quiet American. Indeed, with its multi-tiered, curling roofs and its 48 lime-wood columns - the largest of which weigh seven tonnes, Phat Diem is a far cry from a European cathedral. Stone relief angels overlook carved dragons and the cathedral's two tonne bell is accompanied by a giant brass gong.

In the area surrounding this massive stone and wood cathedral, the rice paddies are peppered with stone churches. But, unlike these structures, built by Europeans and resembling typical churches of the era, Phat Diem Cathedral was designed by a Vietnamese priest, known as Father Sau Between 1875 and 1899, Father Sau rallied the local population to build the cathedral, five side chapels, three artificial grottoes,an artificial lake and a bell tower. He died the same year as the complex was finished.

Local Catholics view the cathedral's survival as almost miraculous; a bombing in 1972 flattened two of the side chapels and caused the cathedral to lean by some 20 degrees. Despite the ongoing war, restoration started immediately and today, the only obvious trace of the bombing is the destruction of some intricate stone carvings.

The best day to visit Phat Diem is on a Sunday, when the district's roads are full of people, walking or cycling towards the cathedral or one of the dozens of neighbouring churches. And on Christmas eve, an unforgettable midnight mass, attended by thousands and accompanied by a brass band, is held in the cathedral grounds.

Phat Diem Cathedral is 121 kilometres south of Hanoi and 29 kilometres south-east of Ninh Binh town. From Hanoi, it can be reached in under three hours by car.

 

Trở lại đầu