HUẾ ...

LÊ HỮU MỤC
và cái đẹp của
HUẾ
* Nguyễn Đ́nh Toàn biên soạn
Cái đẹp của thành phố Huế ,không chỉ mê
hoặc những người sinh trưởng ở Huế ,mà c̣n làm cho du khách,ai đă có dịp qua
Huế,ở lại Huế một đôi ngày ,một thời gian ,khi rời bỏ Huế ,xa Huế ,không khỏi
cảm thấy quyến luyến ,thương tiếc .
Sông núi,chùa chiền,thành quách,lăng tẩm,quá khứ và hiện tại
đương trộn lẫn với nhau .
Người ta cảm nhận một cái buồn đến chết người . Cái buồn ấy
xui người ta nhớ người
Và nỗi buồn ấy trở thành nỗi buồn nhớ người,nhớ Huế . Nhớ rồi yêu .
Ôi cái t́nh yêu như gió thoảng ấy có thể gắn với bất cứ khuôn mặt nào người ta nh́n thấy,bắt gặp trên đường,một nụ cười,một ánh mắt,một tà áo,một vành nón,một giọng nói,thứ t́nh t́nh cờ như con bướm chọn đậu trên một bông hoa mà thành .
Hoa tưởng tượng .
Bướm tưởng tượng .
T́nh tưởng tượng .
Thế nhưng có t́nh nào lại không bắt đầu bằng tưởng tượng ?
Trời mưa ở Huế sao buồn thế
Cứ kéo dài ra đến mấy ngày .
Hàng xóm có người con gái lẻ
Ư chừng duyên nợ với nhau đây
.
Người tha yêu Huế như yêu thơ . Yêu Huế qua thơ . Yêu thơ trước,rồi yêu Huế sau
.
Bởi v́ người ta đọc thơ trước,rồi mới biết Huế .
Sinh ra ở một thành
phố như thế,th́ người ta phải trở thành giai nhân hay tài tử thôi .
Lạc vào một thành phố như thế,th́ người ta không thể ra khỏi ,mà lại không bị
một chút..thương tích ǵ .
Sao anh không về thăm thôn vĩ,
Nh́n nắng hàng cau,nắng mới lên .
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc ,
Lá trúc che ngang mặt chữ điền .
V́ thế,người ta không ngạc nhiên khi thấy thơ và nhạc viết về Huế rất nhiều . Và đă nhắc tới những ca khúc nói về Huế, người ta không thể không nói tới HẸN MỘT NGÀY VỀ của LÊ HỮU MỤC .
Những bài hát hay nhất viết về Huế ,hâu
nhu đều dựa trên một cổ điệu nào đó của miền Trung . Riêng bài Hẹn Một Ngày Về
có sắc thái riêng ,vihoàn toàn là sáng tác của Lê Hữu Mục .Nếu nó có làm liên
tưởng đến một âm hưởng nào khác,th́ đó là (một chút)nhạc bán cổ điển Tây phương
,chứ không phải nhạc dân gian hay nhạc cung đ́nh Huế . Những nốt láy,được lập đi
lập lại ở mỗi cuối câu ,cho ngựi nghe cảm tưởng cảnh trời mây,thành quách,sông
núi Huế .Sông trôi không hết niềm vui .Xoá bỏ không hết nỗi buồn .Sông như tấm
gương,cho Huế soi lấy nhan sắc .Tấm gương ấy có lúc bị mây che đi rồi mờ lại .Huế
cũng có những con đường " đi dăm phút đă về chốn cũ" .T́nh nhắc nhớ hoài như
thế,không sâu cũng thành sâu .
Được biết Giáo sư Lê Hữu Mục ,dạy tại Đại Học Văn Khoa ,Huế .Ông
ở Huế,yêu Huế .Không hiểu sao Ông chỉ một lần nói đến Huế như thế,rồi thôi .Nhưng
hỏi như thế mà chi ?
Hăy nghe lại Mưa Rơi,của Ưng Lang. Nghe lại Hẹn Một Ngày Về của Lê Hữu Mục .Nghe
qua giọng Hà Thạnh .Nghe qua giọng Quỳnh Giao .Chỉ những nguời sinh trưởng ở Huế
,mới hát ra được hết cái "chất Huế" lẩn khuất trong ca khúc đó . Những ngựi
khác,hát cũng hay,nhưng lại hay cách khác .
![]()
HẸN MỘT NGÀY VỀ
* Lê Hữu Mục
Về đây trong hoa lá, hỡi cánh chim giang hồ .
Về đây trong hương sắc,thắm tươi ,say mơ .
Huế lờ lững ḍng Hương,năm tháng c̣n vương lời ai mong chờ .
Huế trong tiếng dịu êm,cô lái bên sông ,c̣n vang lời thơ .
T́nh xưa không vỡ bao giờ .
Mùa xưa c̣n thơm ngàn gió .
Chiều hè về trong sương khói mong manh .
Chờ người về trong hương thu trong xanh .
Về đây trong hoa lá ,hỡi cánh chim giang hồ .
Về đây trong hương sắc,thắm tươi say mơ
Huế ḷ lững ḍng Hương,năm tháng c̣n vương lời ai mong chờ .
Huế trong tiếng dịu êm,cô lái bên sông,c̣n vang lời thơ .
Mùa hưong hẹn đến khi về .
Ḷng xanh c̣n in trời Huế .
Trầm trầm thuyền đem thuơng nhớ qua sông .
Chập trùng trời mây bay trong mênh mông .
Từ đây xa sông bến,Thuyền lướt theo trăng ngà .
Trời đầy sương lạnh lẽo,có ai bơ vơ .
Gỡ tay vướng mà đi ,sông nước biệt ly,nguời xa kinh kỳ .
Giữa sương gió ngàn khơi,
Đăm đắm trông ai,cầu mong ngày vui .
NGUYỄN Đ̀NH TOÀN biên soạn
Lều Kim Thanh
Xứ Huế - Kinh đô của Việt Nam suốt hơn 150 nǎm. Ngày nay, bên cạnh những kiến trúc, đền đài, lǎng tẩm độc đáo, hiển hiện hài ḥa giữa cảnh sắc thiên nhiên thơ mộng của sông Hương, núi Ngự, xứ Huế c̣n lưu lại một loại h́nh ca nhạc đặc trưng cho vùng đất cố đô này. Đó là Ca nhạc Thính Pḥng Huế thường được gọi là Ca Huế với h́nh thức âm nhạc bao gồm cả nhạc hát và nhạc đàn.
Ca nhạc Huế có một lịch sử lâu đời. Nhưng cho đến ngày nay chưa có tư liệu đích xác nào nêu rơ được thời điểm ra đời, ai đă tổ chức và sáng tác những bản nhạc đàn Huế. Đến thế kỷ XIX, khi nhà Nguyễn đă thống nhất giang sơn, thực hiện trị quốc an dân, cũng là lúc ca nhạc Huế có điều kiện phát triển. Các nhạc công là những người rất giỏi đàn chơi trong đội nhạc ngự ở triều đ́nh. Ngoài những công việc trong triều, họ cùng với học tṛ của ḿnh lập nên những nhạc mục và dựa vào các ngón đàn của nhạc triều để sáng tác những bản ḥa tấu và độc tấu. Âm nhạc của họ được các ông hoàng, bà chúa và các quan trong triều rất yêu thích. Nên các ông hoàng bà chúa thường xuyên mời ban nhạc đến tư dinh để dạy đàn, đồng thời cùng nhau đàn hát, thưởng thức âm nhạc. Vào đầu thế kỷ XX, ca nhạc Huế đă phát triển cực thịnh, nhưng từ sau nǎm 1945 đă dần dần bị mai một. Ngày nay ca nhạc Huế trở thành di sản âm nhạc quí giá, được nhà nước bảo tồn và tạo điều kiện khôi phục lại.
Dàn nhạc Thính pḥng Huế sử dụng các nhạc cụ: Nguyệt, Nhị, Tranh, Tỳ Bà, Bầu, Sáo với nhiều h́nh thức ḥa tấu và đệm cho hát. Những h́nh thức thường gặp hiện nay là:
- Hoà tấu song thanh của 2 nhạc cụ: Tranh, Nguyệt; Tranh, Bầu; Nhị, Bầu; Nhị, Tỳ Bà hoặc Bầu, Nguyệt.
- Hoà tấu tam thanh của 3 nhạc cụ: Nguyệt, Nhị, Tranh; Bầu, Nhị, Tranh hoặc Tỳ Bà, Nguyệt, Tranh.
- Ḥa tấu tứ tuyệt của 4 nhạc cụ: Bầu, Nhị, Tranh, Nguyệt hoặc Nhị, Tỳ Bà, Nguyệt, Sáo.
- Hoà tấu ngũ tuyệt của 5 nhạc cụ: Nhị, Nguyệt, Tranh, Tỳ bà, Sáo.
Đặc biệt khi đệm cho hát, người hát thường có 1 đôi phách nhỏ để gơ nhịp. Tiếng phách vang lên ḥa với dàn nhạc càng tạo ra âm hưởng độc đáo cho ca Huế.
Tính nǎng của các nhạc cụ được sử dụng trong ca nhạc Huế:
1. Đàn tranh (thập lục) là nhạc khí dây gẩy, có 16 dây. Cấu tạo của đàn h́nh hộp dài khoảng 110 cm. Một đầu rộng khoảng 22 cm, đầu kia hẹp hơn khoảng 15 cm. Mặt đáy phẳng và có lỗ khoét thoát âm h́nh chữ nhật. Mặt trên đàn làm bằng gỗ nhẹ xốp, uốn cong, để mộc. Hai bên thành cao 7 đến 8 cm. Trên mặt đàn ở đầu rộng có một cầu đàn bằng kim loại uốn nằm ngang theo mặt đàn, trên đó có 16 lỗ nhỏ, ở đầu hẹp xếp chéo 16 trục. Các dây đàn được mắc từ các lỗ trên cầu đàn đến các trục. ở giữa mặt đàn có 16 ngựa đàn (gọi là con nhạn) bằng gỗ, xương hoặc ngà, h́nh tam giác, trên đỉnh tam giác của ngựa đàn có bịt đồng để đặt dây, di chuyển điểu chỉnh độ cao của dây. Các ngựa đàn điều chỉnh lên dây theo thang âm ngũ cung, ví dụ:
| Điệu Bắc: | Đô - Rê - Fa - Sol - La - Đô | |
| hay | Điệu Nam: | Đô - Mib - Fa - Sol - Sib - Đô |
Đây là hai điệu cơ bản trong ca Huế. Nhạc công ngồi chơi đàn, tay phải gẩy đàn, tay trái nhấn nháy trên dây. Đàn tranh có âm cao, trong sáng, vui tươi.
2. Đàn Nguyệt (đàn ḱm) là nhạc khí dây gẩy, có 2 dây. Cấu tạo của đàn gồm hộp đàn h́nh trụ dẹt và một cần đàn dài. Mặt đàn và dây đàn bằng nhau, tṛn đều ví như trǎng rằm nên gọi là Đàn Nguyệt. Đường kính mặt đàn khoảng 36 cm, thành đàn khoảng 6 cm. Trên mặt đàn có gắn ngựa đàn để mắc dây. Cần đàn làm bằng gỗ cứng dài khoảng 100 cm. Trên cần gắn 7 phím nối tiếp với 3 phím gắn trên mặt đàn để bấm. Các phím đàn gắn trên những khoảng cách không đều nhau. ở đầu trên của cần đàn có 4 trục gỗ, trong đó có 2 trục dùng để mắc dây, c̣n 2 trục dùng để trang trí cho cân đối, đẹp mắt. Dây đàn xưa kia làm bằng tơ se, nay được thay bằng dây ni lông, một dây to, một dây nhỏ. Hai dây đàn được lên theo tương quan quăng 5 và các phím đàn đặt theo điệu thức 5 âm.
Ví dụ:
| Trên dây Đô là: | Đô, Rê, Fa, Sol, La, Đô, Rê, Fa, Sol, La | |
| Trên dây Sol là: | Sol, La, Đô, Rê, Mi, Sol, La, Đô, Rê, Mi, |
Nhạc công ngồi chơi đàn, tay phải gẩy đàn bằng móng tay để dài của ḿnh hoặc bằng một miếng nhựa, tay trái bấm phím, luyến láy, nhấn rung. Âm thanh của đàn nguyệt ấm áp, tươi sáng, rộn ràng.
3. Đàn Nhị (đàn C̣) là nhạc khí dây kéo, có 2 dây. Cấu tạo của đàn Nhị gồm có cần đàn và bầu đàn. Cần đàn làm bằng gỗ cứng, không có phím, dài khoảng 70 - 80 cm đầu dưới xuyên qua bầu đàn, đầu trên hơi ngửa ra phía sau và có 2 trục để lên dây. Bầu đàn h́nh ống tṛn được làm bằng gỗ cứng, hơi thắt ở phía đáy, phía kia bịt da trǎn hoặc da rắn làm mặt đàn. Đường kính mặt đàn khoảng 15 cm, trên mặt đàn có ngựa đàn. Dây đàn xưa kia làm bằng tơ se, ngày nay thay bằng dây kim loại. Cung vĩ kéo đàn làm bằng cành tre cong hoặc bằng thanh gỗ dài có đầu cong mắc lông đuôi ngựa. Lông đuôi ngựa của cung vĩ đặt lồng giữa hai dây đàn. Nhạc công lên dây đàn nhị theo quăng 5, ví dụ: Đô - Sol hoặc Fa - Đô
Nhạc công ngồi kéo đàn, tay phải cầm cung vĩ kéo, tay trái bấm dây với những ngón rung, nhấn, láy, vuốt.
Âm sắc đàn nhị da diết, tha thiết, đẹp, giàu khả nǎng diễn cảm.
4. Đàn Tỳ Bà: Là nhạc khí dây gẩy, có 4 dây. Cấu tạo của đàn gồm hộp đàn và cần đàn. Hộp đàn h́nh nửa quả lê bổ dọc làm đôi. Mặt đàn phẳng làm bằng gỗ nhẹ, xốp, để mộc. Lưng đàn khum, làm bằng gỗ cứng. Trên mặt đàn có gắn một bộ phận để mắc dây đàn và 8 phím bấm phía trên. Cần đàn ngắn, gắn liền với hộp đàn, xưa kia không có phím, nay có gắn 4 phím. Phần trên cần đàn có 4 trục gỗ để lên dây. Xưa kia dây đàn làm bằng tơ se, nay thay bằng dây ni lông. Đàn Tỳ bà lên theo tương quan các quăng: Quăng 4 - quăng 2 - quăng 4, ví dụ: Đô - Fa - Sol - Đô
Nhạc công ngồi chơi đàn, tay phải gẩy đàn bằng miếng nhựa hoặc bằng móng tay, tay trái bấm phím với các ngón nhấn, vuốt, rung... Âm sắc của đàn tỳ bà ấm, đục.
5. Đàn Bầu: C̣n gọi là đàn Độc huyền. Đàn Bầu thuộc họ dây gẩy, chỉ có một dây. Cấu tạo của Đàn Bầu độc đáo. Thân đàn h́nh hộp dài, đầu nhỏ hơn cuối. Thành đàn làm bằng gỗ cứng. Đáy đàn và mặt đàn làm bằng gỗ nhẹ. Mặt đàn hơi uốn cong phồng lên. Đáy đàn có 2 lỗ thoát âm. Bầu đàn làm bằng quả bầu khô cắt đáy hoặc bằng gỗ tiện theo h́nh bầu ở đầu đàn. Ṿi đàn làm bằng tre hoặc bằng sừng cắm xuyên qua bầu đàn xuống thân đàn. Cuối đàn có 1 trục lên dây bằng gỗ hoặc bằng kim loại. Dây đàn được buộc vào ṿi đàn, đi qua miệng loe của bầu đàn kéo chếch xuống cuối thân đàn. Dây đàn trước đây làm bằng tơ se, nay làm bằng kim loại. Que gẩy đàn làm bằng tre hoặc song vót nhọn.
Khi chơi nhạc công ngồi gẩy đàn. Tay phải cầm que gẩy, tay trái cầm ṿi đàn. Nếu dây Đàn Bầu ở thế dây buông th́ gẩy ở bất cứ vị trí nào trên dây cũng đều phát ra một cao độ, đó là âm thực. V́ vậy trên mặt đàn nhạc công đánh dấu những điểm nút (hoặc những điểm gẩy). Khi chơi đàn nhạc công dùng cạnh bàn tay phải t́ nhẹ vào những điểm nút trên dây và khi gảy xong th́ nhấc tay lên ngay (nếu đánh dấu vào những điểm gẩy th́ tay phải chặn ở khoảng cách phù hợp với điểm gẩy), dây đàn sẽ phát ra những âm thanh có cao độ khác nhau tùy theo vị trí của bàn tay chặn đúng những điểm nút khác nhau, những âm này là âm bội. Kết hợp với tay phải gẩy, tay trái cầm và điều khiển ṿi đàn khiến dây đàn hồi khi cǎng, khi chùng để tạo ra những âm thanh cao hơn hay thấp hơn theo ư muốn. Âm sắc của đàn bầu mượt mà, ngân nga, ngọt ngào gần với giọng nói người Việt.
6. Sáo: Thuộc nhạc khí họ hơi. Sáo dùng để thổi ngang, làm bằng một ống trúc hoặc một ống nứa nhỏ, đường kính từ 1,5 - 2 cm, chiều dài từ 30 - 40 cm. Một đầu có mấu hoặc được nút kín. Sáo ngang có 1 lỗ để thổi h́nh bầu dục ở phía trái ống. Phía phải ống có 6 lỗ bấm h́nh tṛn. Ngày nay người ta có thể khoét 10 lỗ bấm để có thể thổi được nhiều giọng.
Khi diễn tấu, nhạc công dùng 2 ngón tay cái đỡ sáo, các ngón c̣n lại đặt lên lỗ bấm, đưa sáo ngang lên môi thổi, hướng sáo về phía tay phải. Kỹ thuật thổi có: vuốt hơi, nhấn hơi, rung hơi ... Kỹ thuật bấm có vuốt, lướt, láy... Sáo ngang có âm sắc mượt mà, khoẻ, trong sáng và linh hoạt .
