![]() |
Sự h́nh thành và phát triển thành phố Đà Lạt Hứa Hoành (Đặc san Đa Hiệu số 40 thán10-1995)
|
|
Lập trên cao nguyên Lâm viên đồi
núi chập chùng, Dà lạt là một đô thị nghỉ mát xinh đẹp nằm giữa những khu rừng
thông, thác nước thơ mộng: Đà lạt là thành phố của tuổi trẻ, t́nh yêu và kỷ niệm.
Ai đă đến đó một lần, chắc chắn sẽ giữ lại trong ḷng những h́nh ảnh và kỷ niệm
thân thương.
Tài liệu viết bài này ngoài quyển sách “Những Đứa Con của Rừng Núi” (The Sons of
Mountains) của Gerald Cannon Hickey, c̣n nhiều tài liệu khác mà chúng tôi sưu
tầm rải rác trong sách báo cũ. Trong chương viết về Đà lạt, tác giả G. Hickey
có nhắc đến tác phẩm, bài báo kê cứu hiếm như:
- Báo Indochine năm 1943-1944
- Monographie de la province Dalat do trường Viễn Đông bác cổ Hà nội in năm
1931.
- Tạp chí Bulletin des Amis du vieux Hué năm 1938...
Trong các Toàn quyền Đông Dương chỉ có P. Doumer, Pasquier và Decoux để lại
nhiều kỷ niệm trên đất nước ta hơn hết. Mặc dù khi tạo lập đường xá, cầu cống,
tiện nghi công cộng, người Pháp không nghĩ đến phúc lợi cho người bản xứ, nhưng
dầu sao đi nữa các cơ sở hạ tầng ở các thuộc địa cũng đem lại lợi ích
lâu dàị
Chúng tôi c̣n nhớ ngày 10 tháng 12 năm 1896, Toàn quyền Rousseau lâm trọng bện
và từ trần ở bịnh viện Hà nội th́ P. Doumer được lịnh qua Đông Dương kế vị. Vừa
đến Việt nam, P. Doumer liền nghĩ đến một chương tŕnh kiến thiết đầy tham vọng.
Mục đích nhằm khai thác kinh tế Việt nam. Hai dự án lớn lao nhất của P. Doumer
là:
- T́m các địa điểm lập các đô thị nghỉ mát ở miền núi Trung kỳ.
- Lập lại đường xe lửa xuyên Việt.
Năm 1879, P. Doumer gặp bác sĩ Yersin là người đăhướng dẫn nhiều cuộc thám hiểm
sâu vào vùng rừng núi Tây nguyên để thảo luận việc t́m kiếm những địa điểm thuận
tiện có thể lập khu nghỉ dưỡng. Nơi đó phải có khí hậu mát mẻ để các kiều dân
Pháp và các viên chức Pháp ở Đông dương đến nghỉ hè thay v́ mỗi năm phải về Pháp.
Bác sĩ Yersin khuyến cáo nên chọn đỉnh Lâm viên (Langbian). Sau đó P. Doumer ra
lệnh cho một đoàn thám hiểm quân sự t́m kiếm một con đường từ miền duyên hải lên
Lâm viên. Năm 1898, Pháp lập ra tỉnh Đồng Nai thượng, cơ sở hành chánh đặt tại
Đà lạt. Ngoài ra, c̣n có một tỉnh nhỏ mới thành lập ở Tánh linh, nằm trên đường
ṃn trao đổi hàng hóa giữa cao nguyên và đồng bằng.
Một đoàn thám hiểm khác khởi hành vào năm 1908 để phát quang dọn dẹp con đường
ṃn từ đồng bằng lên cao nguyên. Công việc này hoàn tất năm 1899. Với sắc lệnh
1-11-1899, người Pháp lập ra tỉnh Đồng nai thượng với trung tâm hành chính đật
tại Đà lạt. Một tỉnh nhỏ hơn là Tánh linh với cơ sở hành chánh tại Djirinh (Di
linh). Một ngôi nhà bằng thiếc đầu tiên được thiết lập coi như ngôi nhà nghỉ mát
đầu tiên tại đâỵ Mấy năm sau, nhận thấy rằng vùng rừng núi này có nhiều vách đá
dốc đứng, cheo leo, khó thiết lập đường xe lửa, nên họ chọn cách làm đường lộ
cho xe hơi chạỵ Từ đó, Pháp bỏ tỉnh Đồng nai thượng, c̣n đại lư hành chánh
Djirinh sát nhập vào tỉnh Phan thiết và Đà lạt nhập vào Phan rang. Công việc
đang tiến hành th́ năm 1902, Toàn quyền P. Doumer đột ngột về Pháp, khiến nhiều
chương tŕnh kiến thiết bị đ́nh trệ.
Tuy là một thành phố sinh non, nhưng nhiều người Pháp có đầu óc làm giàu chú ư
ngay đến Đà lạt. Lợi dụng sắc luật nhượng đất đai của chính phủ, vào ngày
1-4-1900, một người Pháp tên Gresieu được cấp cho không 885 mẫu đất thuộc Đồng
nai thượng. Ngày 18-10-1901, một người Pháp khác tên Armavon được cấp 300 mẫu ở
gần Đà lạt...
Ngày nay du khách đi chơi Đà lạt thường theo quốc lộ 20, từ ngả ba Dầu giây lên
Định quán, Bảo lộc, rồi Di linh tới Đà lạt, hay dùng quốc lộ 21 từ Phan rang đi
lên, chớ ít ai ngờ rằng con đường lộ đầu tiên nối liền giữa Sài g̣n và Đà lạt đi
qua ngả Phan thiết. Đường ấy bắt đầu từ Ma lâm, qua đèo Datrum đến Di linh, rồi
từ đó mới đi tiếp lên Đà lạt. Từ năm 1914-1915, Phan thiết là trạm dừng chân của
lữ khách đi Đà lạt.
Từ năm 1908, Đà lạt mới có ngôi nhà gạch đầu tiên là toà Công sứ Pháp. Năm 1912
Toàn quyền Albert Sarraut kế tục chương tŕnh dang dở của P. Doumer, phát triển
Đà lạt thành một trung tâm nghỉ dưỡng. Ban đầu người Pháp khởi công làm con
đường từ Phan rang lên Đà lạt qua Đa nhim và đèo Ngoạn mục (Bellevue). Con đường
ấy sau này mở rộng thành quốc lộ 21. Từ năm 1914, hăng xe hơi chở khách “Société
des Correspondances Automobiles du Langbian” cho chạy những chiếc xe hiệu
Lorraine Đietrich trên lộ tŕnh Sài g̣n - Phan thiết - Di linh tới Đà lạt. Người
cố cựu cho biết rằng hồi đó người ta gọi tắt hăng xe đ̣ này bằng chữ “SCAL”. Năm
sau, tỉnh Langbian thành h́nh vẫn lấy Đà lạt làm tỉnh lỵ. Đà lạt bắt đầu thu hút
du khách đến nghỉ mát và săn bắn vào mùa hè. Năm 1916, Langbian Palace Hotel là
khách sạn đầu tiên được xây dựng theo kiểu nhà sàn, nhưng có hành lang rộng và
mái chẹ Cũng năm đó, Đà lạt có trạm Bưu chính, sở Công chánh và trắc địa, toà
Công sứ, Cảnh binh. C̣n người Việt nam (kinh) đầu tiên đến cư ngụ Đà lạt là
những người phu khuân vác trắc địa hay những người buôn bán. Năm 1920, Pháp tái
lập tỉnh Đồng nai thượng, tỉnh lỵ đật tại Di linh, trong khi Đà lạt trở thành
một khu vực tự trị về hành chánh, do một Tổng ủy viên cai trị. Năm 1922, Đà lạt
bước qua một giai đoạn phát triển mới, kiến trúc sư được chỉ định vẽ đồ án nới
rộng Đà lạt, mở rộng thành phố thành một đô thị tân tiến. Đặc biệt theo đồ án
này không được xây cất ǵ che khuất đỉnh Lâm viên để giữ vẻ đẹp cho thành phố
thơ mộng. Pháp muốn thành phố Đà lạt sẽ là một góc của nước Pháp ở miền núi
Alpes của Á châụ Do đó Đà lạt phải có:
- Hồ nhơn tạo
- Hàng trăm biệt thự rải rác trên các sườn đồi
- Xây dựng ngôi chợ trung ương h́nh khối chữ nhật với tháp chuông vươn caọ Đó là
vị trí rạp hát Ḥa b́nh hiện naỵ
Kể từ năm 1930 trở đi, Đà lạt phát triển thành một đô thị có vườn hoa xinh đẹp,
nhiều công viên cây xanh, ngàn hoa khoe sắc thắm vào mùa xuân. Người Mỹ đầu tiên
có mặt tại Đà lạt là vợ chồng nhà truyền giáo Tin Lành Hebert Jackson. Ông này
đến Đà lạt năm 1930, lập nhà truyền giáo đầu tiên cho đồng bào Thượng, có một
mục sư Việt nam làm thông ngôn.
Năm 1925, Đà lạt có chương tŕnh gắn điện các đường phố chính bằng cách xây đập
thủy điện Ankroet. Dự án này không thực hiện được v́ thiếu ngân sách. Năm 1929
một nhà trồng tỉa Pháp làm một máy phát điện nhỏ sử dụng thác nước Cam ly để
cung cấp điện lực cho Đà lạt. Tháng 7 năm 1932, con đường quốc lộ 20 từ Sài g̣n
lên Bảo lộc đi Đà lạt hoàn thành.
* Đà Lạt, một trung tâm giáo dục
Các nhà khoa học đều nhận định rằng môi trường, khí hậu trong lành, mát mẻ rất
thích hợp cho các hoạt động trí tuệ. Từ đó, Đà lạt sớm phát triển thành một
trung tâm giáo dục quan trọng nhất nước. Năm 1927, nhằm phục vụ cho con em người
Pháp và số gia đ́nh người Việt giàu có, Pháp cho lập ra Petit Lycée de Dalat.
Ngôi trường Việt nam đầu tiên do cụ Bùi Thúc Bàng mở ra năm 1927, gần rạp Ngọc
Lan. Cùng năm đó, ḍng nữ tu Soeur St. Paul mở trường Crèche de Nazareth, dành
riêng cho trẻ em. Trước năm 1932, trường Petit Lycée de Dalat đổi thành Grand
Lycée de Dalat và chương tŕnh học dạy tới bực Tú tài Pháp. Năm 1935, trường này
lấy tên Lycée Yersin cho tới nay, để kỷ niệm bác sĩ Yersin, ân nhân
của Việt nam và cả nhân loại nữạ
Cuối năm 1932, người Pháp xây dựng cơ sở giáo dục cho nhà ḍng sư huynh (trường
Christian Brothers) và trường Collège d'Adran cho các chủng sinh. Năm 1935, nhà
ḍng Notre Dames mở rộng thêm bằng cách thiết lập chương tŕnh giáo dục đệ nhị
cấp, c̣n gọi là “Notre Dames de Langbian” và sau này chúng ta quen gọi trường ấy
là Couvent des Oiseaux. Trường nữ này dành riêng cho các thiếu nữ con các gia
đ́nh Pháp, Việt giàu có cùng các gia đ́nh quan lạị Trường này thu nhận các nữ
sinh từ Miên, Lào theo học nữa. Đến ngày 27-6-1939, Đà lạt có thêm trường Thiếu
Sinh quân đầu tiên dành cho các thiếu nhi và thiếu niên các gia đ́nh quân nhân
Pháp Việt. Năm 1936 bác sĩ Yersin lập ra viện Pasteur ở Đà lạt,
sau này trở thành nha Địa dư, nằm trên ngọn đồi gần trường Yersin và ga xe lửa
Đà lạt. Ngày 1-1-1953, trường Quốc gia Hành chánh thành lập tại Đà lạt để đào
tạo công chức cao cấp cho chính phủ. Nhiều người Việt nam tốt nghiệp khoa này,
về sau đều làm tỉnh trưởng, phó tỉnh trưởng và giám đốc các công
sở. Trường trung học Trần Hưng Đạo khởi thủy lập gần chợ Hoà b́nh, có hoàng tử
Bảo Long theo học, nên sau lấy tên là trường Bảo Long. C̣n trường nữ trung học
Bùi Thị Xuân, lúc mới lập lấy tên công chúa Phương Mai, sau đổi thành trường
Quang Trung. Trường Vơ bị Quốc gia Việt nam nguyên thủy là trường Sĩ quan Huế,
thành lập năm 1948 bên cạnh sông Hương. Năm 1950, trường này di chuyển về Đà lạt,
lấy cơ sở trường Chỉ huy Tham mưu sau này làm địa điểm. Dưới thời Tổng thống Ngô
Đ́nh Diệm, trường này lấy tên trường Vơ bị Liên quân Đà lạt. Đến năm 1960,
trường này đổi tên thành Trường Vơ bị Quốc gia Việt nam trên ngọn đồi 1515. đến
năm 1967, trường này có cơ sở hiện đại nhất so với các trường vơ bị Đông Nam Á.
Áp dụng chương tŕnh huấn luyện quân sự và phần lớn chương tŕnh văn hóa của
trường Vơ bị West Point (Hoa kỳ), trường Vơ bị Quốc gia Việt nam dạy văn hóa bậc
đại học 4 năm, đào tạo các sĩ quan hiện dịch đủ tŕnh độ kiến thức chỉ huy và
kiến thiết sau nàỵ Khi tốt nghiệp, ngoài bằng cấp tốt nghiệp do trường Vơ bị cấp
phát, mỗi sinh viên c̣n được cấp bằng Cử Nhân Khoa Học Ứng Dụng. Cho tới ngày
Cộng sản chiếm miền Nam, trường Vơ bị đăđào tạo được 29 khóa sĩ quan hiện dịch (khóa
30 và 31 đang trong thời kỳ huấn luyện) làm ṇng cốt cho Quân đội VNCH. Viện Đại
học Đà lạt thành lập năm 1957. Tiền thân của viện Đại học này là trường Sư huynh
công giáo ở Huế do giám mục Ngô Đ́nh Thục thành lập với sự giúp đỡ của Hồng y
Spellman ở New York. viện Đại học Đà lạt xây cất trên khu đất rộng 38 mẫu tây,
có khoảng 1500 sinh viên theo học các phân khoa Chính trị Kinh doanh, Sư phạm,
Khoa học... nằm tại số 1 đường Phù đổng Thiên vương.
Thật là một sự ngạc nhiên lạ lùng, Đà lạt trước năm 1975 có độ 80,000 dân mà có
đến 4 cơ sở giáo dục đại học: Viện Đại học, trường Đại học Chiến tranh Chính trị,
trường Vơ bị Quốc gia Việt nam. Phía Giáo hội c̣n có trường Giáo hoàng Piọ Ngoài
ra c̣n có 15 trường trung học đệ nhị cấp và 56 trường tiểu học!
* Vài nhân sĩ thượng ở Đà Lạt
Đà lạt nguyên thủy là quê hương của người Thượng. Khi nói đến Đà lạt mà không
nhắc qua vài tên tuổi lớn người Thượng th́ thất là thiếu sót. Từ cuối năm 1920,
Đà lạt phát triển bề rộng lẫn chiều sâu, mà vài người Thượng đăđóng vai tṛ quan
trọng. Tại thung lũng Đa nhim, có bộ tộc Churu (Chru) tuy dân số ít (độ 1500
người) nhưng được coi là bộ lạc tiến bộ nhất cao nguyên Lâm viên, v́ lịch sử của
họ có liên hệ với lịch sử người Chiêm thành.
Là thị dân Đà lạt, tôi chắc nhiều đồng hương c̣n nhớ con đường Ya Gut, nằm giữa
đường Trần B́nh Trọng và Hoàng Diệu, gần Trung tâm Y tế toàn khoa. Theo Touneh
Han Tho th́ Banahria Ya Gut được coi như lănh tụ người Churu nhiều thập niên đầu
thế kỷ 20. Sinh năm 1870 tại một buôn làng thuộc vùng Đơn dương ngày nay, Ya Gut
kết hôn với một người chị bà con của thân phụ Han Tho; Ya Gut có một đứa con gái
tên Ame Mabo, cho đến năm1975 vẫn c̣n sống tại làng Diom là quê hương của ông tạ
Ông Ya Gut là một người có tâm hồn nghệ sĩ, môt Nguyễn Du của người Churu, từng
sáng tác nhiều thên anh hùng ca cho dân tộc Churụ Tài năng ấy Ya Gut thừa hưởng
của tổ tiên. Năm 1909, Pháp lập một đồn hành chánh tại Dran (Đơn dương) và phong
cho Ya Gut làm tri huyện cai trị vùng này, giống như trường
hợp tù trưởng có thế lực Khunjenob cai trị tại Ban Mê Thuột. Hồi đó Ya Gut đóng
vai tṛ trung gian giao thiệp giữa Pháp và dân chúng. Ngoài chức vụ hành chánh,
Ya Gut c̣n đóng vai thẩm phán hoà giải các vụ xung đột, làm trọng tài giải quyết
các cuộc tranh chấp của đồng bào ông tạ Theo Touneh Han Din, một người bà con
với Han Tho, th́ trong thời gian làm tri huyện ở Dran, nhiệm vụ căn bản của Ya
Gut là chiêu mộ dân Thượng làm phu đắp đường giao thông. Dân Thượng cũng bị bắt
buộc phải khiêng cáng cho các viên chức Pháp Việt và vợ con của họ. Đối với các
bà vợ công chức Việt nam, những người Thượng này gọi đùa rằng đó là các “bà đầm
mũi tẹt”.
Một lănh tụ khác là Touneh Han Dang, sinh năm 1880 tại Diom, trong một gia đ́nh
có 7 anh em. Ba mẹ là người thuộc chi tộc Banahriạ Cũng như cha, thuở nhỏ Han
Dang theo cha làm rẫỵ Thời gian nhàn rỗi
cậu thường đi săn bắn thú rừng. Đến tuổi 15, Han Dang tháp tùng theo các thường
nhân người Churu buôn chuyến từ Phan rang lên Dran. Chuyến xuống họ mang mật ong,
thịt rừng phơi khô, vài loại măng... xuống Phan rang đổi lấy muối, nước mắm, vải
vóc. Là một thanh niên cường tráng, có chí tự lập, chỉ mấy năm sau, Han Dang tự
ḿnh tổ chức các chuyến hàng riêng biệt. Tại Phan rang có làng An phước là nơi
nổi tiếng văn vật của người Chàm, có trường tiểu học. Nhờ vậy Han Dang được theo
học các môn Pháp Việt và Chàm ngữ. Thấy việc học thích thú và có lợi, Han Dang
rất tích cực trau dồị Nhưng có một điều làm cho Han Dang lo lắng đó là cha mẹ
cậu sợ cậu ở măi dưới An phước sẽ lưu lạc rồi bỏ rơi ông bà. V́ thế ông bà thu
xếp cho hai người anh lớn đang làm giáo viên, dạy kèm tiếng Việt và Chàm cho Han
Dang tại nhà ở Diom. Hàng ngày, sau khi tập ca hát cùng các ban hợp ca trong hai
giờ, Han Dang học kèm với anh, và sau đó, học vơ với một vơ sư người Việt.
Năm 1905, Pháp bắt đầu làm con đường từ Phan rang lên Đà lạt. Han Dang và cha
đều bị bắt đi làm sưụ thấy cha già yếu, Han Dang t́nh nguyện làm việc cho cả hai
người, nhưng lại từ chối khiêng cáng cho các “bà đầm mũi tẹt”. Con đường từ
Krong Pha lên Đà lạt có nhiều dốc cao, mỗi ngày Han Dang chỉ mang vác vượt 15
cây số thôị Hàng hóa thường là những két rượu vang dành cho các công chức Pháp ở
Đà lạt. Trong thời gian ấy Han Dang dành dụm được một số tiền, bắt đầu mua ngà
voi, mật ong ở Roglai đem xuống Phan rang bán. Năm 1907, Han Dang có ư nghĩ sẽ
cải tiến đời sống người Churụ Đầu tiên, Han Dang yêu cầu một người đàn bà Chàm
đến Đa nhim dậy bộ lạc Churu dệt vảị Kế tiếp, Han Dang gởi cô em họ là Ba Cam
xuống Phan rang học kỹ thuật làm nồi đất nung. Khi trở về, Ba Cam bắt đầu làm
toàn bộ nồi đất mới cho cả làng. Han Dang c̣n học được kỹ thuật cày ruộng: cày
sâu và hiệu quả hơn. Có một điều không thành công lắm là bắt đàn bà Churu mặc
quần thay v́ mặc váỵ Năm 1910, Han Dang được bổ làm lư trưởng Diom. Năm sau Pháp
lập huyện Tân khai, sau này gọi là Di linh và Han Dang trở thành thông ngôn cho
Ya Gut. Đến năm 1919, tri huyện Ya Gut hưu trí và Han Dang được cử thay thế chức
tri huyện của Ya Gut. Măi đến ngày 22-2-1922, triều đ́nh Huế (Khải Định) mới bổ
Han Dang làm “Thổ Huyện Tân khai” và gọi là ”tri huyện Mọi”. Trong thời gian này,
Han Dang đề nghị mở trường ở Đa nhim bị công sứ Cunhac và quản đạo Trần Văn Lư
phản đối với lư do “người Mọi không cần giáo dục, v́ họ chỉ làm những việc nặng
nhọc, không cần đến sự khéo léo”. Dù thất bại, Han Dang không nản, tiếp tục
tranh đấu để cải tiến mức sống của đồng bào ông. Năm 1922, người Pháp làm đường
Sài g̣n đi Đà lạt qua ngả Bảo lộc, cần nhiều phu người Thượng. Với tư cách tri
huyện Mọi, Han Dang có bổn phận cung ứng dân phu, nhưng đồng thời cũng nhắc lại
yêu sách mở trường học. Lần này có kết quả. Tại các buôn người Lat, người Chil,
người Churu, bắt đầu có trường sơ cấp, nhưng mỗi trường chỉ có độ 10 học sinh.
Cho đến năm 1927, quản đạo Trần Văn Lư liên tục bất đồng ư kiến với Han Dang, và
bỏ qua các đề nghị của Han Dang về những cải cách nâng cao mức sống của đồng bào
Thượng. Khi quản đạo Trần Văn Lư đi rồi, t́nh h́nh người Thượng được cải thiện
hơn: Han Dang tranh đấu để tỉnh cấp tiền bạc cho học sinh, tăng chương tŕnh học
lên 4 năm, và lúc ấy có 40 học sinh theo học. Những học tṛ giỏi được gửi lên Đà
lạt sẽ ở trọ nhà Han Dang đi học. Những học sinh ưu tú, sau khi tốt nghiệp sẽ
được gửi
đi Qui Nhơn học tiếp “Collège de Quinhon”.
Ngày 2-9-1925, toàn quyền Đông dương ban tặng cho Han Dang huy chương Bắc Đẩu
bội tinh. Theo Touneh Han Tho, trong khi khánh thành đường xe lửa từ Krong Pha
lên đèo Ngoạn mục, công sứ Đồng nai thượng có ban cho Han Dang huy chương “Kim
Tiền hạng 3”. Sau đó, Han Dang c̣n liên tiếp nhận được các huy chương Bắc Đẩu
bội tinh (1929), mề đay Kim Khánh hạng 3 (1933).
Theo Touneh Han Tho, Han Dang tiếp tục tranh đấu để cải thiện mức sống của đồng bào Thượng quanh vùng Đà lạt. Ông tranh đấu cho dân làm đường được lănh lương cao hơn. Mội khi có những thắc mắc ông khiếu nại với các viên chức cao cấp Pháp tại Đà lạt, nếu như không được giải quyết, không nản, ông làm đơn gởi lên hoàng đế Bảo Đại, thủ tướng Pháp Léon Blum và cả tổng thống Pháp. Năm 1937, để phản đối viên công sứ Pháp lạm quyền, Han Dang từ quan, về làng làm lănh tụ cho bộ lạc của ông đến ngày măn phần.

Đà Lạt, cà phê hoài niệm
Những quán cà phê Đà Lạt là một nét văn hóa riêng của thành phố này. Đây cũng là
nơi giúp người ta lưu giữ kư ức của tâm hồn.
Chiều nay tôi lại về Đà Lạt và chọn một góc khiêm nhường trong quán cà phê Tùng
để ngắm phố mưa qua. Tùng nổi tiếng bởi địa chỉ này xuất hiện trong hầu hết sách
hướng dẫn của các hăng lữ hành và c̣n bởi nó tồn tại trong một không gian đă đi
qua thời gian. Quán cà phê nhỏ không mấy nổi bật ấy từ lâu đă trở thành một góc
hồi niệm quá văng và hơn nữa, là chốn tưởng niệm cho những kẻ luôn mang quá khứ
vào đời sống hiện tại. Thật lâu rồi tôi mới có lại cái cảm giác thư thái như thế.
Được ngồi lặng lẽ giữa những ẩm khách lặng lẽ. Nhạc, vẫn những giai điệu của
người nghệ sĩ rong rêu ấy, thong thả những thanh âm cầu hồn theo tiếng tí tách.
Cà phê kết tinh qua phin. Những tà áo dài lướt qua cửa kính như những cánh lay-ơn
run rẩy trong màn mưa thoang thoảng leo dốc…
Thời gian ngai ngái ủ vàng trên những mép viền khung cửa, những ranh gỗ của bàn
và ghế. Thời gian lê bước chân chậm chạp đi qua và đọng mờ những vết bụi của
ḿnh lên những bức tranh tường mà chủ nhân đă tôn trọng lưu giữ như những dấu ấn
không dễ xoá nḥa. Tôi có cảm giác như những người quanh ḿnh đều mang một tâm
sự hay ít ra là hoài niệm về một miền kư ức đă xa. Họ run rẩy đón nhận và sợ
chạm vào thực tại sẽ xoá mất cái cảm giác như là chút vốn quư hiếm hoi trong
phút cuối ngày. Trong một góc khuất, đôi ghế nan tre c̣n đó, thời gian đánh bóng
lên từng vân tre của ngày xưa một màu vàng như nhũ. Ngày xưa chưa thật đă xưa,
người hát rong đi qua cuộc đời nhạc sĩ họ Trịnh và nữ tri âm của ḿnh đă có
những buổi chiều lăng đăng khói sương nơi đây trên đường dài du ca và luân lạc.
Trong không gian thoắt ẩn thoắt hiện, nửa thực nửa hư đâu đây là những di âm của
cung la thứ mở đầu cho những bản t́nh ca đồng hành với thời gian. Giờ đây, nàng
đă cách hơn nửa ṿng trái đất, chàng c̣n xa hơn, nhưng đôi ghế nan tre lên bóng
kia như nấn ná đợi chờ một hội ngộ tương phùng trong tưởng tượng. Không biết
người ra đi có c̣n hồi niệm? C̣n tôi và những ẩm khách chiều nay dường như đang
hoài niệm về họ trong dư âm của những giai điệu với xúc cảm tốt lành…
Người ta nói, cà phê không phải là thú thanh thản như trà, càng không mạnh mẽ,
bạo liệt như rượu. Người thưởng thức nhẹ nhàng cho rằng cà phê là gạch nối giữa
niềm vui và nỗi buồn. Với ai đang muộn phiền, cà phê càng day dứt như một bản
nhạc có nhiều dấu lặng. C̣n những kẻ môn đồ của giáo phái cà phê th́ cho nó là
người đàn bà mang bùa ngải trong ḿnh…
Từng có một quán cà phê bên hồ Xuân Hương mang cái tên nhẹ bồng bềnh bằng tiếng
Pháp: Danube Bleu. Ḍng sông xanh ấy gắn bó với tôi và bạn bè từ những ngày đầu
đặt chân lên xứ sương mù. Có một đêm như mọi đêm, bản sonate "Ánh trăng” của
Beethoven lung linh và thánh thiện đến thế. Những ánh đèn đường ngả bóng xuống
mặt hồ như chùm ly pha lê sóng sánh rực rỡ. Chúng tôi vỡ oà cảm xúc và liên
tưởng đến cái bi kịch thần thánh trong bức tranh “Bữa tiệc ly” của danh họa
Leonar De Vinci. Đó là đêm cuối cùng, ngày mai bạn tôi rời thành phố cao nguyên
đi xa. Đèn trong quán tắt dần. Bữa tiệc với những vũ điệu ánh sáng trên hồ cũng
nhạt. Bản sonate chỉ c̣n du dương những thanh âm cuối cùng, nấn ná luyến lưu cho
một cuộc chia tay chưa hẹn ngày tái ngộ. Và nhiều đêm như thế, tôi và người đă ở
trọ trong tâm hồn nhau. Cùng “ḍng sông xanh” ngửa mặt trông đồi Cù sẫm bóng và
lan man những điều ǵ không c̣n nhớ nữa. Gặp lại nhau, người hỏi, tôi ngậm ngùi:
“Danube Bleu đóng cửa lâu rồi”. Lại có thêm xúc cảm “khắc dấu t́m gươm”. Cà phê
đâu c̣n là cà phê!…Tâm hồn đă quyện vào nhau trong những giọt tí ta tí tách
thơng như sương ấy. Không gian ấy ta luôn lưu giữ và gợi lại những thổn thức
hoài niệm về một thời đă qua.
Ở những đô thị khác, muốn có một không gian uyển chuyển tự nhiên như Đà Lạt thật
khó. Người dịu tính coi đây như nơi trú chân lư tưởng. Khách giang hồ coi đây là
chốn thỏa chí tang bồng. Trong cái se lạnh của heo may cao nguyên, lượn theo
những con đường lúc ẩn lúc hiện, những quán cà phê giữa lưng chừng dốc như những
quán Ba Cá Bống trong cổ tích về cậu bé Buratino ở đất nước Tí Hon. Nào Bích Đào,
Dương Cầm, Nam Giao, Nghệ Sĩ…; nào Guitare, Valentine, Memory…; nào 57, 60, 72,
81…
May mắn thay, chỉ với một cà phê Lâm (Hà Nội) đă tạo không gian cảm xúc cho sự
ra đời những tuyệt phẩm văn chương của Nguyễn Tuân, Nguyễn Bính; những bản t́nh
ca đi cùng năm tháng của Đặng Thế Phong, Hoàng Quư, Đoàn Chuẩn, Văn Cao; những
họa phẩm lưu măi với thời gian của Tô Ngọc Vân, Bùi Xuân Phái hay Nguyễn Phan
Chánh…
Kẻ tục lụy vạn sinh là tôi chưa phải là người sành thứ thức uống đầy thi vị này,
cũng không dám lạm ngôn về những thú tao nhă tạo nên hưng phấn sáng tạo của các
bậc tao nhân mặc khách. Chỉ biết rằng, chiều nay trong góc quán khiêm nhường
ngắm phố mưa qua chợt nao ḷng về những ngày quá văng, những ngày không trở lại
thêm một lần nào nữa trong đời…
UÔNG THÁI BIỂU
