Suy Luận

Gởi Ân T́nh Cho Thơ Lăng Mạn
|
Tôi xin ghi nhận những ân t́nh cho các nhà thơ đă đóng góp những áng thơ yêu đương và lăng mạn qua bài viết cục bộ này. Mang nghiệp dĩ thi ca chất chứa khuynh hướng lăng mạn hay một tâm hồn văn thơ lai láng đắm say, bất cứ thi nhân nào cũng trải qua các |
Trong các thi sĩ mà tôi xin trích thơ sẽ là bốn nhà thơ Nguyên Sa, Nguyễn
Bính, Xuân Diệu và Hồng Vũ Lan Nhi (HVLN), cộng thêm chút gió ru từ thơ VHla
được bàn luận về chủ đề thi ca lăng man. Bạn tôi, anh Đỗ Văn Cường biếu tôi
một quyển tuyển tập nhiều tác giả hay thân hữu cùng nhau viết về nhà thơ
Nguyên Sa, để tri ân và tưởng nhớ đến ông khi ông qua đời. Tôi măi mê đọc
bài của anh Vũ Hạ viết về Nguyên Sa với nhiều thơ Nguyên Sa được trích gọn
lại. Nguyên Sa ra đi để lại một khoảng trống vắng nắng Sài G̣n mà người đi
trong nhớ nhung, rồi kỷ niệm của Nguyên Sa về người em gái tuổi 13 ch́a tay
đón mưa rơi như bong bóng vỡ đầy tay, Nguyên Sa trong khung nhạc bất hủ của
Ngô Thụy Miên, Nguyên Sa của màu vàng hoa cúc như màu áo em, Nguyên Sa của
mực tím đề t́nh thơ, Nguyên Sa của tháng 6 trời mưa, mưa rơi măi không dứt,
Nguyên Sa của mùa thu Paris và Nguyên Sa của sự lăng mạn khi nh́n tóc em mà
ḷng ngỡ như từng áng mây bay trong tâm thức. Đó là thi nhân làm tôi nhớ măi
từng câu ví von, từng lời thơ tâm sự dâng nỗi ḷng mà ông bộc lộ thật hồn
nhiên, thật thiết tha. V́ yêu là phải nói, mà nói là lời tâm sự khi yêu. Yêu
là tâm trạng tự nhiên mà thượng đế ban cho con người. Một khi nhịp đập con
tim dâng lên nỗi rung cảm, cái tần số rung động đó đă khiến các thi nhân
biến nguồn cảm hứng đó thành những áng thơ bất tử cho vườn thi ca âm nhạc
thêm phong phú hơn.
Hăy nghe Nguyên Sa tâm sự trong bài "Tương Tư" như sau:
"Có phải em mang trên áo bay
Khi ta yêu, con tim ngân dài theo phím đàn, tâm tưởng kéo dài theo yếu tố
thời gian qua đi. Từng nhịp tim, từng hơi thở, từng cung đàn, từng phút giây
đều cho em, nét dịu dàng hiện trên ánh mắt đầy nhớ nhung:
"Có phải rằng tôi chưa được quen
Làm sao buổi sáng chờ đợi em
Hay từng hơi thở ra âm nhạc
Đàn xuống cung trầm, mắt nhớ thương"
(Thơ Nguyên Sa, 1958)
Trong cung đàn nhớ nhung đó, sáng nay tôi t́nh cờ đọc bài thơ của chị Hồng
Vũ Lan Nhi (HVLN), một nhà thơ nữ, vốn là nhà giáo trung học cùng thời với
nhà giáo Trần Bích Lan, Nguyên Sa. Chị vốn theo khuynh hướng thi ca lăng mạn.
Đọc thơ chị, đọc thơ của nhà giáo Phạm Mạnh Cương, rồi thơ của nhà giáo Trần
Bích Lan cho ta thấy nhà giáo không bị những nguyên tắc mô phạm cứng rắn
giết chết nguồn rung cảm của họ về thi ca yêu đương. Nền giáo dục hay thi ca
nhân bản và khai phóng cứ cho con người phát huy nguồn rung cảm văn học của
họ, miễn sao tác phẩm văn học được công chúng đón nhận hài ḥa, nồng nhiệt.
Đây là một đoạn trích dẫn trong bài thơ dài "Tiếng Dương Cầm" của nhà thơ
HVLN:
"Làm rộn ră trái tim buồn cô tịch
Cho đam mê đẫn lối mộng mơ về
Cho tương tư đầy ắp ánh sao khuya
Ôi ! Nhớ quá tiếng dương cầm trầm lắng."
Nhà thơ nghe tiếng đàn mà tương tư phím nhạc. Một cơi mộng mơ đi về cô đơn
sao khuya lấp lánh, và khúc nhạc dạo buồn thổn thức gót chân em. Trong nỗi
niềm nhung nhớ cô liêu dâng tràn hồn thơ, Nguyên Sa sáng tác bài t́nh thơ "Ngừơi
Em Sáng Trong Cô Độc" với lời thơ chờ đợi người em gái đển hao ṃn tâm tư:
"Có thơ sáng thắp trong từng ánh nguyệt
Những lời êm bày biện với linh hồn
Có mùa thu thay áo ở đầu non
Cho dịu lối em về mai lá tụng."
Nhớ em như nỗi hôn mê phủ lấp chân trời tương lai trước mặt. Cả cuộc đời
vắng em như ngàn sao đêm vắng lặng trên nền trời tâm tối. T́nh yêu ôi, t́nh
yêu !:
"Em đă đến chưa ? Sao đêm chợt vắng
Cả cuộc đời xáo động chợt hao đi
Những ngón tay dần chuyển xuống hôn mê
Và tà áo phủ chân trời trước mặt."
(Thơ Nguyên Sa, 1958)
Nguyên Sa có những xao xuyến về mùa thu. Mùa thu trong thơ nguyên Sa chứa
đựng hồn thơ vui tươi như trong bài "Áo Lụa Hà Đông", anh quen em vào mùa
thu tóc ngắn, em duyên dáng trong tà áo lụa Hà Đông để nhà thơ măi dâng hồn
thơ ấp ủ:
"Em ở đâu, hỡi mùa thu tóc ngắn
Giữ hộ anh màu áo lụa Hà Đông
Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng,
Giữ hộ anh bài thơ t́nh lụa trắng."
Mùa thu của Nguyên Sa có nét chờ mong tích cực th́ mùa thu nhớ cố nhân của
nhà thơ HVLN nghe như hồn đau buốt, chỉ là mùa thu tưởng nhớ cô liêu, tâm tư
khắc sâu h́nh bóng cũ cố nhân:
"Giờ đây, tưởng nhớ người xưa,
Hồn đau, ḷng lạnh, tâm tư lắng ch́m.
Trong tim c̣n một chút t́nh,
Bởi chưng c̣n dấu vết h́nh cố nhân."
("Nhớ Mùa Thu Xưa", HVLN)
Trong bài "Gửi Cố Nhân" nhà thơ Nguyễn Bính chia xẻ tâm tư thao thức tựa như
HVLN. Ư thơ Nguyễn Bính ray rứt trong cơn mưa dầm gió bấc rét lạnh khi mơ
tưởng bóng cũ của cố nhân:
"Mưa dầm gió bấc cố nhân ơi !
Áo rét nàng đan lỡ hẹn rồi
Sông lạnh khi nàng ra giũ lụa
Vớt giùm trong nước lấy hồn tôi."
Trong một bài thơ khác, bóng cố nhân lại hiện về khi mà Nguyễn Bính mơ trong
nỗi nhớ dịu dàng của bướm say hương sắc, hoa cười hé môi về người mà ông yêu:
"Tôi chỉ thèm yêu lấy một lần
Có người di giữa xứ mùa xuân
Thấy con bướm bay thơ thẩn
Ư hẳn đi t́m Hương cố nhân."
("Hương Cố Nhân", NB)
Một bài thơ bướm hoa khác, ông thố lộ tâm t́nh khi ḍng đời đen bạc v́ bị
phụ t́nh như:
"Ai đem rắc bướm lên hoa
Rắc bèo xuống giếng, rắc ta vào nàng ?
Ai đem nhuộm lá cho vàng ?
Nhuộm đời cho bạc, cho nàng phụ ta."
Có lẽ không c̣n ǵ đau đớn hơn khi được tin mùa thu em đi lấy chồng, gặp
nhau lần cuối ḷng tê tái khi chia ly trong đớn đau, trong buồn bă, Nguyễn
Bính tâm sự trong bài "Đêm Cuối Cùng":
"Hội làng mở giữa mùa thu
Giời cao gió cả giăng như ban ngày
Hội làng c̣n một đêm nay
Gặp em c̣n một lần này nữa thôi."
Em đi lấy chồng coi như chấm dứt từ đây, em về làm vợ nguời ta, mùa thu đóng
kín như buồng tằm dâu:
"T́nh tôi mở giữa mùa thu
T́nh em lẳng lặng kín như buồng tằm."
Trong ngày vui xác pháo tơ duyên của người yêu, Nguyễn Bính lại thổn thức
tiếp qua bài "Lỡ Duyên":
"Pháo ơi đừng nổ rộn ràng
Đừng phô sắc thắm, đừng làm ta say
Biết đâu chịu khổ thế này
Thà rằng đừng sống những ngày yêu đương."
Em bỏ đi lấy chồng, hồn anh xót xa, con tim sẽ lặng thinh, nhưng yêu em anh
vẫn cứ một ḷng măi yêu:
"Dù rằng một chữ cũng thơ
Dù rằng một thoáng cũng thừa xót xa
Dù rằng một cánh cũng hoa
Dù rằng một nửa cũng là trái tim
Dù không nói, dù lặng im
Dù sao anh cũng thương đêm nhớ ngàỵ."
("Dù Rằng...", NB 1961)
Nguyễn Bính vốn là thi sĩ của sự lăng mạn, tôi thích bài thơ "Tương Tư" của
ông khi tôi học đệ tam, cái thời gian cho tôi chớm yêu và say thơ lăng mạn
của Xuân Diệu và Nguyễn Bính. Và câu thơ dưới đây đă dính chặc hồn tôi từ
dạo ấy:
"Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông
Một người chín nhớ mười mong một người
Gió mưa là bệnh của trời
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng."
Đọc thơ Nguyễn Bính cho tôi nghĩ về tâm trạng tương tư của chính ḿnh:
"Đêm về hồn măi miên man
Nhớ em cái nhớ nồng nàn con tim
Xa em bướm măi đi t́m
Nụ hoa ngày cũ sao im lặng ḷng ?"
("Nhớ Em", VHla)
Trong khi đó Nguyễn Bính c̣n bài tương ḷng khác mà tôi thích là "Người Hàng
Xóm". Hai người ở cạnh nhà, nhưng oái oăm thay cái giậu mồng tơi lại chia
cắt, cách trở hai tâm hồn yêu trong cô đơn:
"Nhà nàng ở cạnh nhà tôi
Cách nhau cái giậu mồng tơi xanh rờn
Hai người sống giữa cô đơn
Nàng như cũng có nỗi buồn giống tôi."
Trong bài "Ḷng Yêu Thương", Nguyễn Bính tỏa tâm sự ḷng như sau:
"Yêu yêu yêu măi thế này !
Tôi như một kẻ sa lầy trong yêu."
Rồi nhà thơ lại tôn vinh, thờ phượng người ḿnh yêu chính là vị nữ thần linh
thiêng trong tâm hồn. Ngược về quá khứ 1940 khi Nguyễn Bính làm bài thơ này,
khuynh hướng xă hội tại Việt Nam thời ấy vẫn c̣n khép kín chuyện t́nh yêu
lứa đôi ngoài công cộng th́ dư luận phải đồng ư là Nguyễn Bính thuộc lớp nhà
thơ mới, vô cùng táo bạo và sự phóng khoáng của ông đă đi ra ngoài khuôn khổ
thuận lợi của xóm làng hay xă hội cũ:
"Ai yêu như tôi yêu nàng
Họp nhau lại, họp thành làng cho xinh
Chung nhau dựng một trường đ́nh
Thờ riêng một vị thần linh là Nàng."
Năm 1941, ông sáng tác bài "V́ em", nhà thơ bảo rằng v́ em mà ông làm thơ,
để rồi nhớ mong, để rồi mơ được ôm em vào ḷng, và để rồi hôn em bằng sự thơ
ngây trong tâm hồn:
"Tôi xin ôm lấy vào ḷng
Tôi xin giữ lấy trọn ṿng thời gian
Tôi xin sung sướng vô vàn
Để ca ngợi, để mơ màng em luôn
Tôi xin dành một chiếc hôn
Đặt lên tất cả tâm hồn thơ ngây."
Cũng "V́ Em" mà nhà thơ muốn kính cẩn tôn thờ em sống măi bên bờ sông yêu
đương. Và bù lại chàng chỉ cần nàng ban cho nụ cười hay những lời ngọt ngào
ái ân:
"Tôi xin kính cẩn vọng thờ
Thắp hương cầu nguyện bên bờ sông yêu
Nhưng đau ḷng biết bao nhiêu !
Người tôi yêu chỉ biết yêu như người
Chỉ cho tôi những nụ cười
Chỉ cho được những lời ái ân..."
Đó là bài "V́ Em" của Nguyễn Bính. C̣n sự lăng mạn của Xuân Diệu trong thi
ca như thế nào ? Ngày cũ của lớp đệ tam tôi thích bài "V́ Sao" của Xuân Diệu,
chỉ mấy ḍng thơ cho tôi say sưa ngâm nga, đă ru kỷ niệm cũ vào thuở biết
mộng mơ v́ khi đă yêu th́ mơ mộng nhiều:
"Làm sao cắt nghiă được t́nh yêu
Có nghiă ǵ đâu một buổi chiều
Nó đến hồn ta bằng nắng nhạt
Bằng mây nhè nhè, gió hiu hiu..."
Đọc bài thơ "V́ Sao" của Xuân Diệu tôi thấy ḷng bâng khuâng, xao xuyến để
rồi tự hỏi chính ḿnh biết "yêu" là ǵ không và rồi tôi làm thơ yêu, bạn
nghe nhé:
"Yêu ai ai nhớ mộng nhiều
Yêu ai, ai biết ḿnh yêu cái ǵ ?
Yêu ai, ai hỏi làm chi ?
Yêu ai, ai biết chỉ v́ đôi môi
Yêu ai, ḷng lắm bồi hồi
Yêu ai, chết lịm bờ môi người về
Yêu ai, ai lỡ đam mê
Yêu ai, ai lỡ nhiêu khê đời ḿnh..."
("Yêu Ai", VHla)
Nói về thơ tiền chiến về yêu, người ta không thể không nghĩ đến bài thơ "Yêu"
của Xuân Diệu, nó vốn đă thịnh hành, phổ quát trong dân gian, ít ra là câu
đầu:
"Yêu là chết trong ḷng một ít
V́ mấy khi yêu mà chắc được yêu
Cho rất nhiều song nhận chẳng bao nhiêu
Người ta phụ, hoặc thờ ơ, chẳng biết."
Riêng tôi đă chẳng thuộc lời nhà thơ Xuân Diệu khi vướng ṿng yêu đương, mà
lại tự trấn an, tự nhủ khi cả quyết ḿnh biết đắm say thú yêu đương, rồi tôi
làm bài "Tôi yêu" nhắn gửi người em gái tôi mộng mơ về nàng:
"Tôi yêu v́ bởi tôi yêu
Này, cô em nhỏ hỏi nhiều v́ sao...
Tôi yêu đừng hỏi tại sao ?
Tôi yêu một mối t́nh cao ngút trời."
("Tôi Yêu", VHla)
Nói về thơ hôn, Xuân Diệu là một trong các nhà thơ khá táo bạo đề cao nụ hôn
trong thi ca. Ông sáng tác bài "Hôn" như sau:
"Trời ơi ôm lấy say sưa
Mặt khao khát mặt, ḷng mơ ước ḷng
Hôn em nước mắt chảy ṛng
Em ơi ! Như ngọc đèn chong vẫn chờ."
Trong niềm khát khao, sung sướng khi yêu nhau và rồi hôn nhau đến lệ tuôn
trào. Đó là biểu hiện cho t́nh yêu đích thật khi con tim rung động dâng cao
quá bờ xúc cảm. Nói đến đây tôi bổng nhớ đến bài "Nụ Hôn Đầu" của nhà thơ nữ
Hồng Vũ Lan Nhi, chị sáng tác bài này năm 1960 trong cùng nhịp điệu thổn
thức tràn dâng, khi con tim xao xuyến đến rơi lệ v́ được hôn như sau:
"Nụ hôn đầu, ôi, sao đắm say
Em úp mặt vào đôi bàn tay
Chẳng biết v́ sao Em lại khóc
Cho môi hồng thấm lệ tràn đầy"
Xuân Diệu lại tiếp bài thơ "Hôn" khi diễn tả về người yêu của ḿnh:
"Em hôn anh suốt một giờ
Anh hôn em mấy cho vừa ḷng đau
Sao mà xa cách giữa nhau
Để cho tháng thảm ngày sầu thế em ?"
Nhà thơ HVLN là một trong những nhà thơ nữ có thơ hôn thặng dư phong phú,
tôi đọc nhiều áng thơ của chị, thơ chị làm mượt mà, trau chuốt chan chứa nỗi
ḷng, nhất là những xúc cảm từ con tim. Bài thơ hôn khác mà tôi ghi nhận là
"Nụ Hôn Trinh Nguyên", nó cũng tượng trưng cho kỷ niệm dấu yêu đầu đời khi
con tim chớm yêu của thuở thiếu thời:
"Nụ hôn theo gió bay đi
C̣n trên môi ấm chút ǵ nồng say
Hương trinh nguyên vẫn ngất ngây
Trọn đời vẫn nhớ phút giây băo t́nh."
Khi cơn băo t́nh đến cho nụ hôn thêm say đắm, cuồng nhiệt, hăy tận hưởng
giấc nồng cuồng si v́ yêu đương ngất ngây, khi tâm hồn tràn dâng ngàn sao
lấp lánh của mùa ái ân đến trong bờ mắt em:
"Mắt em lấp lánh sao rơi
Môi em như đoá mộng đời ngất ngây
Hằn trên môi vị cay cay
Hồn anh ngơ ngẩn, đắm say một đời."
("Nụ Hôn Trinh Nguyên", HVLN)
Đó là sự gợi nhớ ánh mắt đắm đuối khi người nữ được hôn. Xuân Diệu mô tả
trong thơ ông về nụ hôn mà ông trao cho người yêu trong bài "Hôn Cái Nh́n"
như sau:
"Không phải anh hôn nơi mắt
Anh hôn cái nh́n của em
Mắt em một vùng yêu mến
Thắt anh trong lưới êm đềm."
Xuân Diệu đắm say trong cái nh́n của người yêu đượm không gian chứa chan sự
dịu vợi v́ ánh mắt biểu lộ sự đồng loă khi được hôn:
"Xin em cho phép anh hôn
Cái nh́n em, gương tâm hồn
Cái nh́n em trong không gian
Trong hồn anh giữ chứa chan."
Trong niềm tin yêu dâng tràn tâm tư, VHla sáng tác bài "Gởi Người Tôi Yêu"
ấp ủ một thoáng nhẹ nhàng khi hôn em như thơ Xuân Diệu:
"Gởi em một đóa hoa hồng
Để anh vương vấn hương nồng ngây thơ
Đôi môi chạm phải t́nh cờ
Anh yêu ngày cũ mộng mơ phím đàn."
Trong cái nhớ nhung, măi vương vấn h́nh bóng người yêu, Xuân Diệu sáng tác
bài "Vấn Vương":
"Anh chả hiểu v́ sao vấn vương
Năm năm, như mấy chục năm trường
Vẫn làn mắt ấy, làn môi ấy
Anh hăy c̣n thương, chẳng hết thương."
Khi người ḿnh yêu thương nhiều mà t́nh không đến như ư muốn th́ màn đêm
trăn trở chỉ là nỗi niềm của nước mắt nhớ nhung:
"Nằm đêm anh cứ thương em
Rơi nghiêng nước mắt một bên gối nằm
Thế này cho hết trăm năm
Đến muôn năm vẫn âm thầm thương em."
("Nằm Đêm Anh Cứ Thương Em", XD)
Nhà thơ Xuân Diệu có nhiều áng thơ tự t́nh tiêu biểu cho mối tương ḷng,
những mối t́nh không trọn vẹn để cái hương thơ của ông trở nên lăng mạn vô
cùng và nó như loài hoa bất tử trong vườn thơ Việt Nam:
"Bữa nay lạnh, mặt trời đi ngủ sớm
Anh nhớ em, em hỡi ! Anh nhớ em
...
Anh nhớ tiếng. Anh nhớ h́nh. Anh nhớ ảnh
Anh nhớ em, anh nhớ lắm ! Em ơi !..."
@@@
Trong thi ca lăng mạn của những tác giả và tác phẩm trên khi mà chiều dài
của nỗi nhớ nhung chạy vào màn đêm vô tận, th́ nhịp tim dâng tiếng ḷng mănh
liệt và giấc ngủ bị chôn vùi trong lăng quên để thay thế bằng những áng thi
ca bất hủ. Cuộc đời theo luật tương đối, nên không có nguyên tắc lư tưởng
trong t́nh yêu, v́ bản sắc t́nh yêu vốn trắc trở và nhiêu khê mới nẩy sinh
ra những tác giả hay tác phẩm bất hủ cho đời vây. Vâng, chính những cái
nhiêu khê trắc trở hay những cái dở dang không trọng ven đó trong t́nh
trường mới là nguồn cảm tác được quần chúng ái mộ, tán thưởng trong các lănh
vực thuộc bộ môn nghệ thuật như thơ, văn, nhạc, kịch, phim ảnh và hội họa.
Trong sự ái mộ văn chương và cho tôi nỗi niềm ân t́nh gợi nhớ thi ca lăng
mạn của những Nguyên Sa, Nguyễn Bính, Xuân Diệu, Jacques Prévert và Hồng Vũ
Lan Nhi, VH muốn tŕnh bày cái thầm kín riêng tư mà các tác giả đă bày biện
nỗi ḷng ḿnh lên trên nhiều trang giấy. Và chiều dài cho những t́nh yêu mà
họ đă trải qua, những nhớ mong của nhịp đập con tim dù xao xuyến dấu yêu hay
dù thất vọng dở dang vẫn là những chuỗi suy tư dài như thời gian và định
mệnh đưa đẩy họ vào cái không gian bất tận của nghiệp thi ca hay những mối
t́nh đă vào dĩ văng yêu thương chỉ c̣n lắng đọng lại trong văn chương sau
này.
Việt Hải, Los Angeles
Ghi chú: VHla xin chân thành cám ơn Thụy Vi Paris đă giúp đỡ cung cấp
nhiều tài liệu về thi ca quư báu về Jacques Prévert, Paul Verlaine, Félix
Avers, Beaudelaire, Lamartine và Appolinaire. Nhưng khuôn khổ của bài viết
giới hạn và bài lại chú trọng các thi sĩ Việt Nam ta, nên đă không trích dẫn
hết. Tuy vậy trong phạm vi văn chương của nhân loại nói chung th́ dù sao
tiếng nói hay những rung cảm từ con tim của các thi sĩ lăng mạn vốn đi xa
hơn trong t́nh yêu mà không phân biệt màu da, ngôn ngữ, tuổi tác hay thành
phần xă hội.
* Lời Pháp ngữ:

T́nh yêu trong CA-DAO tạp ghi bởi Minh Bằng Đó là Ca-Dao! Cô kia
bới tóc đuôi gà,
(Minh Châu - Thái B́nh)
Bỏ nước ra đi tất-tưởi, không sửa-soạn, không từ-biệt. Ra đi đến khắp bốn phương
trời. Song người Việt chúng ta mấy ai không cùng một nhịp-đập của con tim ? Mấy
ai không rung-cảm khi nghe tiếng Mẹ? Tiêu-biểu cho tiếng Mẹ nhất:
Đề-cập đến CA-DAO là đi vào phần văn-chương phong-phú nhất của dân-tộc Việt-Nam.
Nhưng đó cũng là một đề-tài rất phưc-tạp: V́ CA-DAO chỉ được loan-truyền trong
dân-chúng mà không ghi-chép. Một vài học-giả đă dầy-công sưu-tầm, hầu khỏi làm
mất-mát kho-tàng quư-báu đó. Nhưng đó chỉ là một phần rất nhỏ, trong muôn-vàn
câu ḥ, tiếng hát vang-dội khắp ba miền đất nước.
Không ai có thể xác-định được CA-DAO xuất-hiện từ hồi nào. Có người nói: Từ khi
có người Việt và tiếng Việt. Kẻ khác lại cho rằng: CA-DAO chỉ được cấu-tạo khi
xă-hội Việt-Nam được thành-h́nh trong thể-chế quân-chủ... Dầu thế nào đi nữa,
CA-DAO cũng đă có từ rất lâu, và mỗi ngày lại được thêm phong-phú theo ḍng
thời-gian và theo sự thay-đổi của xă-hội.
CA-DAO Việt-Nam đề-cập đến tất cả mọi khía-cạnh của đời sống con người: Từ
thể-chế xă-hội, qua nghĩa vua-tôi, đến t́nh thầy-tṛ, tiến sang thời-tiết,
địa-dư và cuối cùng đi sâu vào đời sống t́nh-cảm qua những rung-động của con tim...
Phần quan-trọng nhất của CA-DAO là phần t́nh-yêu, phần t́nh-cảm cá-nhân của mỗi
người Việt.
Trong khuôn-khổ bài này, chúng tôi không có tham-vọng tŕnh-bầy hết mọi
khía-cạnh của t́nh-yêu trong CA-DAO, mà chỉ muốn đề-cập đến t́nh-yêu đôi-lứa,
t́nh vợ chồng. Chúng tôi tạm gác t́nh đồng-loại và t́nh quê-hương trong một loạt
bài khác. Để thêm rơ-ràng, chúng tôi sẽ cố-gắng phân-chia ra từng tiết-mục nhỏ,
dựa theo diễn-tiến của t́nh-yêu: Từ lúc làm quen, tỏ t́nh, tới khi nên nghĩa vợ
chồng, đầu bạc răng long. Chúng tôi sẽ cố gạt-bỏ một số câu có vẻ quá “tục” (mặc
dầu quan-niệm “thanh / tục” cũng rất tương-đối), và chỉ giữ lại những câu
phản-ảnh trung-thực nhất tinh-thần dân-tộc.
KHI MỚI CHỚM YÊU:
Nhân một ngày hội, một ngày lễ chùa hay buổi chợ phiên, (hoặc những ngày sống
trong trại tạm-cư!), chàng và nàng t́nh-cờ gặp nhau. Tiếng sét ái-t́nh làm cho
hai người cảm-mến nhau ngay:
Nếu là đôi trai gái miền Nam, mọi chuyện dễ-dàng hơn, khỏi cần rào-đón:
Nắm đuôi cô lại, hỏi nhà cô đâu.
- Nhà tôi ở dưới xóm dâu,
Bên kia đám dậu, đầu cầu ngó qua!..."
nhưng với cô gái Bắc-kỳ nho-nhỏ th́:
" Hỏi em, em chẳng nói,
Nh́n em, em lại cười..."
Thiệt là khó-xử v́ c̣n cha mẹ, họ-hàng đi chung, hai người chưa nói với nhau
được câu nào! Sau buổi lễ, mỗi người một ngả, mang theo mối tương-tư thầm-kín,
khó có thể thổ-lộ cùng ai, để mà:
“ Nhớ ai, nhớ măi thế này?
Nhớ đêm quên ngủ, nhớ ngày quên ăn!”
hay là:
“ Nhớ ai
con mắt lim-dim,
Chân đi thất-thểu như chim tha mồi,
Nhớ ai hết đứng lại ngồi
Ngày đêm tư-tưởng một người t́nh-nhân!”
Tục-truyền rằng: Đời vua Thánh-tổ, có một chàng trai tên Phạm Quyên, gặp một
thiếu-nữ đẹp tuyệt-vời nhân một buổi lễ chùa Hương-Tích. Khi ra về, hai người
chia tay và ngầm hẹn-ước ngày này năm sau gặp lại. Ngày tháng trôi qua, Phạm
Quyên y hẹn trở lại chốn cũ, trông-đợi ngày đêm mà người xưa vẫn biệt luôn
tăm-tích. Không nản-ḷng, chàng vẫn đều-đặn trở lại chốn hẹn, ḍng-dă suốt 36
năm trường, cho đến khi nhắm mắt ĺa đời... Về sau chàng hóa ra cây đa mọc cạnh
hồ sen, nơi hai người tṛ-truyện năm xưa.
T́nh yêu có rất nhiều cái hay, cái đẹp, nhưng cũng làm nhiều người phải ”
thất-điên, bát đảo” v́ nó. Nhiều khi con người muốn thoát khỏi cái “yêu”
thường-t́nh, để t́m một lối sống khác, cao-thượng hơn cũng không xong. Đă biết
bao huyền-thoại về các bậc tu-hành, cao tăng, đại đức, không thoát khỏi lưới
t́nh. Chẳng thế mà có câu:
“ Ba cô
đội gạo lên chùa,
Một cô yếm thắm bỏ bùa cho sư
Sư về, sư ốm tương-tư,
Ốm lăn, ốm lóc, nên sư trọc đầu!
Ai làm cho dạ sư sầu,
Cho ruột sư héo như bầu đứt dây...”
Các cô mà bận yếm đỏ, đến ngay quỷ
thần cũng c̣n phải mê-mệt, huống-hồ nhà sư chất-phát kia. Cũng có khi, không
phải cái yếm làm cho sư tương-tư, mà là một
cái ǵ khác, như:
“ Sư đang
tụng-niêm nam mô,
Thấy cô xách giỏ, ṃ cua bên chùa.
Ḷng sư luống những mơ hồ!
Bỏ cả kinh-kệ, t́m cô hỏi chào.
Ai ngờ cô đi đàng nào,
Tay cầm tràng-hạt, ra vào băn-khoăn...”
TỎ T̀NH:
Nhiều người may-mắn hơn chàng Phạm Quyên được gặp lại người ḿnh thầm yêu, trộm
nhớ. Nhưng rồi: Phải làm sao đây? Biết mở đầu bằng câu ǵ bây giờ? Nói thẳng ra
th́ không dám, sợ nàng giận, mà không nói ra th́ nàng lại không hiểu. Thôi th́
liều vậy. Nhưng phải nói loanh-quanh một hồi, đón trước, rào sau, e-dè từng chữ.
Chính thế mà ông cha ḿnh ngày xưa đă tán rất thần-t́nh:
“ Gió
đánh ḍ dưa, gió đập ḍ dưa,
Sao cô ḿnh lơ-lửng mà chưa lấy chồng ?
Gió đánh cành hồng, gió đập cành hồng,
Hỡi cô ḿnh đă muốn lấy chồng hay chưa ?”
hay một cách thâm-thúy hơn: vừa
giới-thiệu ḿnh là kẻ siêng-năng, lại ngầm hứa-hẹn đủ điều:
“ Hôm
qua tát nước đầu đ́nh,
Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen,
Em được th́ cho anh xin,
Hay là anh để làm tin trong nhà ?
Áo anh sứt chỉ đường tà,
Vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâu.
Áo anh sứt chỉ đă lâu,
Mai mượn cô đó về khâu cho cùng.
Khâu rồi anh sẽ trả công,
Ít nữa lấy chồng, anh lại giúp cho
Giúp em một thúng xôi ṿ,
Một con lợn béo, một ṿ rượu tăm,
Giúp em đôi chiếu em nằm,
Đôi chăn em đắp, đôi trầm em đeo,
Giúp em quam tám tiền cheo,
Quan năm tiền cưới, lại đèo buồng cau..”
Có chàng trai dạn-dĩ hơn, tán thật hăng và vào thẳng vấn-đề:
“
Trên đầu em đội khăn vuông,
Trông xuống dưới ngực, cau buồng c̣n non,
Cổ tay em: vừa trắng, vừa tṛn!
Mặt mũi vuông-vắn, chồng con thế nào ? “
Nhưng lối tán trên coi bộ ít được các nàng hưởng-ứng, v́ có lẽ không hợp
tính-t́nh người Á-đông cho lắm. Có khi đă biết rơ “cô bé” chưa có chồng, chàng
‘tán’ cách khác:
“ Đấy
đông th́ đây bên tây,
Đây nay chưa vợ, đấy nay chưa chồng,
Con trai chưa vợ đă xong,
Con gái chưa chồng, buồn lắm em ơi!!!”
Không hiểu các cô nghĩ thế nào về bốn câu thơ trên? Thực ra chỉ đúng một phần,
nhất là các ông chỉ được cái tài lẻo-mép. Có chàng c̣n kêu cô nàng hăy nh́n trời
để chàng chứng-minh t́nh của chàng:
" Sao vua
chín cái nằm kề,
Thương em từ thủa mẹ về với cha.
Sao vua chín cái nằm ngang
Thương em từ thủa mẹ mang trong ḷng.
Sao vua chín cái nằm chồng
Thương em từ thủa mẹ bồng trên tay! "
Nhưng cũng có những chàng trai thiệt
dễ thương, chỉ nói vói nàng:
" Trời
mưa ướt lá trầu vàng,
Ướt anh: anh chịu, ướt nàng: anh thương! "
Có chàng khôn-khéo hơn, làm mặt tỉnh-queo, nhờ cô nàng làm mối cho một cô:
" Đường
đi th́ thiệt là xa,
Muốn ḿnh làm mối cho ta một người.
Một người mười tám, đôi mươi,
Một người vừa đẹp, vừa xinh như ḿnh!..."
Đến giờ phút này mà nàng c̣n chẳng nghe theo, có chàng liền đánh bạo:
" Người
về, ta chẳng cho về,
Ta nắm vạt áo, ta đề câu thơ.
Câu thơ ba chữ rành-rành:
Chữ trung, chữ hiếu, chữ t́nh là ba.
Chữ trung th́ để phân cha,
Chữ hiếu phần mẹ, đôi ta chữ t́nh!..."
Nhưng các bạn đừng tưởng rằng chỉ có các ông mới có quyền và có bổn-phận phải
tán, các nàng cũng tán như ai đó, đôi lúc c̣n “ngọt” hơn phái nam rất nhiều:
“ Chàng
về, thiếp cũng theo về,
Chàng về Hồ Bắc, thiếp về Hồ Tây.
Chàng bao nhiêu tuổi năm nay?
Chàng rày mười tám, thiếp rày bốn ba.
Mồm cha đứa nói thiếp già,
Thiếp c̣n gánh nổi một vài trăm kim!
Trăm chiếc kim đổi lấy lạng vàng,
Mua gương Tư-Mă để thiếp với chàng soi chung!
Chàng về sắm-sửa loan-pḥng,
Thiếp xin điểm phấn, tô hồng thiếp theo! “
Nhiều khi các nàng lại đem cái lư ra để thu-phục ḷng chàng: Trong xă-hội ta
ngày xưa, c̣n ǵ quan-trọng hơn vấn-đề thừa-tự, nối-dơi tông-đường? Ai không con
kế-tự th́ bị ghép vào tội bất-hiếu nặng nhất đối với tổ-tiên, v́ vậy mà các nàng
đánh ngay nhược-điểm này:
“ Trâu
kia kéo cỏ bờ ao ,
Anh kia không vợ đời nào có con!
Người ta con trước con sau,
Thân anh không vợ như cau không buồng!
Cau không buồng như tuồng cau đực,
Trai không vợ cực lắm anh ơi!
Người ta đi đón về đôi,
Thân anh đi lẻ về loi một ḿnh! “
Tán là một chuyện, c̣n người được tán có chịu hay không lại là chuyện khác. Nếu
không chịu, nàng sẽ từ chối khéo. Cũng có nàng “đanh-đá” hơn, muốn trêu tức
chàng trai, thấp cổ mà muốn chơi trèo, nàng sẽ không ngần-ngại trả lời:
“ Thân
chị như cánh hoa sen
Chúng em như bọt như bèo, chẳng chen vào được! “
Cũng có khi nàng giả-vờ xiêu-ḷng, đang khi chàng sung-sướng ra mặt th́ nàng
thêm:
“ Bao
giờ cho chuối có cành,
Cho sung có nụ, cho hành có hoa,
Bao giờ trạch đẻ ngọn đa,
Sáo đẻ dưới nước th́ ta lấy ḿnh! ...”
Điều này th́ đợi đến đời cháu thứ bẩy mươi cũng chưa thể cưới nàng được. Cũng có
khi thay v́ từ-chối, nàng đ̣i thật nhiều lễ vật. Đó là một kiểu thách cưới rất
thịnh-hành ở miền Bắc ngày xưa. Người ta quan-niệm: thách cưới càng cao, càng
chứng-tỏ cô gái có giá-trị. Cha mẹ cô gái sẽ đ̣i một số lễ-vật tương-đương với
giai-cấp xă-hội của ḿnh. Nhà trai muốn cưới nàng th́ phải nộp đủ số lễ vật đó.
V́ vậy nên chỉ có những gia-đ́nh giầu-có mới có thể dễ-dàng cưới vợ cho con. C̣n
những gia-đ́nh nghèo-khó đành phải vay công, mượn nợ mà xin cưới. Nhưng thách
cưới như sau đây th́ dù giầu có cách mấy mặc ḷng, cũng khó cho nhà trai
thực-hiện nổi:
“ Em là
con gái nhà giầu,
Mẹ cha thách cưới ra mầu xinh sao?
Cưới em trăm tấm lụa đào,
Một trăm ḥn ngọc, hai mươi tám ông sao trên trời.
Tráp tṛn dẫn đủ trăm đôi,
Ống thuốc bằng bạc, ống vôi bằng vàng,
Sắm xe tứ mă đem sang,
Để quan-viên họ nhà nàng đưa dâu.
Ba trăm nón nghệ đội đầu,
Mỗi người một cái quạt tầu thật xinh.
Anh về sắm nhiễu Nghi-Đ́nh,
May chăn cho rộng, tôi ḿnh đắp chung!
Cưới em chín chĩnh mật ong,
Mười cót xôi trắng, mười nong xôi ṿ.
Cưới em tám vạn trâu ḅ,
Bảy vạn dê lợn, ngh́n ṿ rượu tăm,
Lá đa, mặt nguyệt hôm rằm,
Răng nanh thằng Cuội, râu cằm Thiên-Lôi,
Gan ruồi, mỡ muỗi cho tươi,
Xin chàng chín chục con dơi góa chồng.
Thách thế mới thỏa trong ḷng,
Chàng mà lo được, thiếp cùng theo chân...”
Cũng có khi không muốn bắt tội chàng phải tốn-phí và đợi chờ quá lâu, nàng ỡm-ờ:
" Có
trầu mà chẳng có cau,
Làm sao cho đỏ môi nhau th́ làm!..."
nhưng nàng đưa ra lư-do của ḿnh:
“ Chẳng
tham nhà ngói ba tầng,
Tham v́ một nỗi mẹ cha hiền-lành! “
hay:
“ Chẳng tham vựa lúa anh đầy,
Tham năm ba chữ, cho tầy thế gian!..”
V́ vậy, những bạn nào học-hành uyên-bác, thế nào rồi cũng có một nàng vừa “đẹp”,
vừa “ngoan” lại vừa tính xa cho lọt mắt xanh. (Chưa chắc !).
T̀NH YÊU TRONG NGHĨA
VỢ CHỒNG:
Không ǵ đẹp bằng, không ǵ hay hơn là ḿnh có thể cưới được người ḿnh yêu.
Xă-hội Á-Đông ta quan-niệm việc vợ chồng là việc tối quan-trọng có ảnh-hưởng
trực-tiếp trong suốt cả cuộc đời mỗi người. V́ vậy mà vấn-đề chồng con là một
mối lo-âu cho biết bao cô gái, ngay từ khi chưa bước chân ra khỏi ngưỡng cửa nhà
trường:
“ Thân em
như tấm lụa đào,
Phất-phơ trước gió, biết vào tay ai...”
Từ ngàn xưa, phái nam vẫn giữ độc-quyền cưới hỏi. Phái nữ chỉ được phép
chấp-nhận hay từ-chối mà thôi, chứ không được đi hỏi phái nam, dù đó là người
con trai mà nàng yêu trọn-vẹn. Nhưng nếu nàng không yêu kẻ tới hỏi nàng, nàng
nên chấp- thuận hay từ chối ? Nếu chấp-thuận, có thể nàng sẽ không hạnh-phúc bởi
v́ nàng không yêu hay v́ chàng không xứng-đáng làm chồng nàng. Nếu từ-chối để
chờ ngưới khác khá hơn, biết đâu sẽ không c̣n ai tới hỏi, và nàng sẽ trở thành
gái già, một viễn-ảnh ghê-rợn của người con gái! V́ vậy người xưa mới có câu:
“ Đi đâu
mà chẳng lấy chồng,
Người ta lấy hết, chổng mông mà gào!
Gào rằng: đất thấp, trời cao,
Sao chẳng thí-bỏ cho tôi chút chồng!
Ông trời ngoảnh lại mà rằng:
Mày hay kén-chọn, ông không cho mày...”
Cũng có cô đẵn-đo, lưỡng-lự: nửa muốn lấy chồng, nửa muốn ở không, v́ đàng nào
cũng khổ:
“ Gái có
chồng như gông đeo cổ,
Gái không chồng như phản gỗ long đanh.
Phản long đanh, anh c̣n chữa được.
Gái không chồng chạy ngược, chạy xuôi! ..”
Có người lại cho rằng:
“ Chồng
con là cái nợ-nần,
Thà rằng ở vậy, nuôi thân béo tṛn.
Rồi khi đă nhất quyết lấy chồng, các nàng lại thêm một cái khổ nữa: Quan-niệm
cha mẹ đặt đâu, con ngồi đấy của người xưa. Cũng v́ muốn vâng lời cha mẹ, đă có
biết bao nhiêu người phải khổ cả một đời. Có cô tội-nghiệp phải sống trong cảnh:
" Lấy
chồng, chẳng biết mặt chồng.
Đêm nằm mơ tưởng đến ông láng-giềng!.."
Có cô vâng lời cha mẹ, lên xe hoa về nhà chồng khi c̣n quá trẻ, nhưng rồi cô sẽ
lớn:
" Lấy
chồng từ thủa mười lăm,
Chồng chê tôi nhỏ chẳng nằm cùng tôi.
Đến năm mười tám, đôi mươi,
Tôi nằm dưới đất, chồng lôi lên giường.
Một rằng thương, hai rằng thương!
Có bốn chân giường: gẫy một c̣n ba!
Ai về nhắn với mẹ cha:
Chồng tôi nay đă giao-ḥa cùng tôi!.."
Có cô thiếu may-mắn hơn, lấy phải ông chồng già:
“ Vô
duyên, vô phúc,
Múc phải ông chồng già!
Ra đường, người hỏi:
- Là cha hay chồng?
Nói ra đau-đớn trong ḷng:
- Ấy cái nợ truyền-kiếp!
Có phải chồng em đâu nào! ..”
Có nàng lại bằng ḷng với số phận ấy, chỉ hy-vọng tương-lai sẽ đổi thay:
“ Trời
mưa nước chảy qua sân,
Em lấy ông lăo qua lần th́ thôi.
Bao giờ ông lăo chầu trời,
Th́ em lại kiếm một chàng trai tơ...”
Những ông già nghe thấy thế chỉ tủm-tỉm cười như nói: - Hậu xét! và biện-luận:
" Áo dài
chớ nại quần thưa,
Bẩy mươi có của, cũng vừa mười lăm!.."
hay tệ hơn nữa:
" Bẩy
mươi, mười bẩy bao xa,
Bẩy mươi có của, mười ba cũng vừa!..?
Cũng có cô bằng ḷng cưới một đứa bé. Ngày xưa, các nhà giầu thường muốn cưới vợ
cho con thật sớm, hầu có thêm người làm trong gia-đ́nh. Một phần cũng v́ mấy cô
tham tiền, nên sau mới than:
“ Tham
giầu, em lấy thàng bé tỉ t́ ti !
Làng trên, xóm dưới, thiếu ǵ trai to!
Em đem thân cho thằng bé nó dầy-ṿ,
Mùa đông, tháng giá: nằm co trong ḷng!
Cũng đa mang là gái có chồng,
Chín đêm chực-tiết, nằm không cả mười !
Nói ra sợ chị em cười,
Má hồng bỏ quá, thiệt đời xuân xanh!
Em cũng liều ḿnh với thằng bé trẻ ranh,
Đêm nằm rờ mó quẩn-quanh cho đỡ buồn.
Buồn ḿnh em lại bế thằng bé nó lên...
Nó c̣n bé mọn đă nên cơm cháo ǵ!!!
Nó ngủ, nó ngáy tỳ tỳ...
Một giấc đến sáng, c̣n ǵ là xuân!
Chị em ơi: hoa nở mấy lần ? “
Có nàng tránh được cái khổ này, lại vướng vào cái cực khác. Cha mẹ tham của, gả
con về làm bé cho người ta. Chế-độ đa-thê được khai-thác triệt-để dưới thời
quân-chủ. Các ông viện cớ:
" Tốt số
lấy được chồng chung,
Lương vua khỏi đóng, áo chồng khỏi may. "
và:
" Tốt số
làm lẽ khỏi lo,
Cơm nguội đầy rá, cá kho đầy nồi. "
Khổ nỗi, người con gái lấy chồng chẳng v́ ham cái rá cơm nguội hay cái nồi đầy
cá. Mấy ai hiểu được hoàn-cảnh bi-đát của người vợ bé. Có qua cầu mới hay!
“ Lấy
chồng làm lẽ khổ thay!
Đi cầy, đi cấy, chị chẳng kể công.
Đến tối chị giữ lấy chồng,
Chị cho manh chiếu, nằm không nhà ngoài.
Đêm đêm chị gọi: Bớ hai!
Trở dậy nấu cám, thái khoai, đâm bèo! “
Người vợ bé bị thiệt-tḥi đủ điều. Mang tiếng có chồng mà ngay cả khi muốn gần
chồng, cũng phải vụng-trộm:
“Thân em
làm lẽ chẳng nề,
Có như chính-thất mà lê giữa giường,
Tối tối chị giữ mất buồng,
Chị cho manh chiếu, nằm không nhà ngoài!
Mong chồng, chồng chẳng xuống cho!
Đến khi chồng xuống, gà o o gáy dồn.
-Cha mẹ con gà kia sao mày vội gáy dồn,
Mày làm cho tao mất vía, kinh hồn v́ nỗi chồng con!!! “
Về phía đàn ông: có người thích vợ trẻ, kẻ lại khoái vợ già. Ai cũng có lư của
ḿnh. Người có vợ già th́ cho rằng:
“ Có phúc
lấy được vợ già,
Sạch cửa, sạch nhà, lại ngọt cơm canh!
Vô phúc lấy phải trẻ ranh,
Nó ăn, nó bỏ tan-tành nó đi...”
Những người ưa vợ trẻ th́ lại nghĩ rằng:
“ Chồng
già vợ trẻ là tiên,
Vợ già, chồng trẻ là duyên nợ-nần! “
Ai cũng công-nhận là thương nhau trái ấu cũng tṛn, nhưng phải công-nhận ông
chồng này khỏi chê v́:
" Mũi em
những tám gánh lông,
Chồng thương, chồng bảo: râu rồng trời cho!
Đêm nằm th́ gáy o o,
Chồng thương, chồng bảo: gáy cho vui nhà!
Đi chợ th́ hay an quà,
Chồng thương, chồng bảo: về nhà đỡ cơm!
Trên đầu những rác cùng rơm,
Chồng thương, chồng bảo: hoa thơm rắc đầu! "
Giữa các đấng mày râu, ai lại không muốn sau này cưới được một người vợ thật đẹp
để nở mày, nở mặt với thiên-hạ. Nhưng quư-vị hăy coi chừng:
“ Vợ đẹp
càng tổ đau lưng,
Chè ngon: đắng miệng! Điếu thơm: quyện đờm!
Biết vậy, song vẫn đám cưới, vẫn tiệc-tùng linh-đ́nh, mà đôi khi c̣n cưới hai ba
bà vợ nữa. Đời sống vợ chồng bắt đầu từ đây: có lúc vui th́ cũng có khi buồn, có
lúc phẳng-lặng như nước mặt hồ thu, nhưng cũng có khi chén đĩa bay như trong
cuộc đại chiến. Các bậc cha mẹ thường dậy con:
“ Chồng
giận th́ vợ bớt lời,
Cơm sôi nhỏ lửa, một đời không khê! “
Có người lại nghĩ rằng: muốn yên cửa, yên nhà, tốt nhất là theo chính-sách nhất
vợ nh́ trời:
“ Làm
trai rửa bát quét nhà,
Vợ gọi th́: -Dạ ! Bẩm bà tôi đây!ï “
Trong xă-hội tân-tiến này, có nhiều người đàn ông lúc nào cũng tỏ ra ta đây:
giầu có và quyền-quư. Nhưng biết đâu cái mặt trái lại khác xa:
" Ra
đường vơng giá nghênh-ngang
Về nhà, vợ hỏi: - Cám rang đâu mày?
- Cám rang tôi để cố i xay.
(Chồng trả lời)
- Hễ chó ăn hết th́ mày biết tao!..." (Vợ hăm)
Có khi người vợ khôn-ngoan, pha tṛ cho chồng vui, rồi làm ḥa, giả bộ ngây-thơ:
“ Chồng
giận th́ vợ làm lành,
Miệng cười chúm-chím: thưa anh giận ǵ?
Thưa anh, anh giận em chi?
Muốn lấy vợ bé em th́ lấy cho! (? ) “
Được người vợ như thế, c̣n ǵ hạnh-phúc hơn. Nhưng đàn ông nào lại chẳng có chút
máu lang-bang, mỗi khi có dịp, nó bùng lên ngay:
“ Đàn ông
một trăm lá gan,
Lá ở cùng vợ, lá toan cùng người... “
Người chồng thường tỏ ra biết lỗi, nhưng vẫn cố bào-chữa:
“ Đố ai
nằm vơng không đưa,
Ru con không hát, anh chừa nguyệt hoa! “
Người vợ biết cái tật dễ ghét của các ông chồng, nên lúc nào cũng nhắc-nhở:
" Ao nhà sạch lắm anh
ơi.
Đừng đi ao khác: nước hôi, lắm bèo!...
Dù rằng chẳng nên chơi bời nguy-hiểm, nhưng các ông chồng cũng cần cân-nhắc,
tính-toán thời-giờ chứ đừng để vợ than:
" Đang
khi lửa cháy, cơm sôi,
Lợn kêu, con khóc, chồng đ̣i ṭm-tem...
Bây giờ cơm đă ch́n rồi,
Lợn no, con ngủ, ṭm-tem th́ ṭm!.."
“ Hỡi thằng con lớn,
hỡi thằng con bé,
Cu tí, cu ti, cu tỉ, cu t́ ơi!
Con dậy, con ăn, con ở với bà,
Để mẹ đi kiếm một vài con thêm.
Bố con chết đi, trong bụng mẹ đây nó hăy c̣n thèm,
Mẹ xem quẻ bói: vẫn c̣n đàn em trong bụng này...”
Có những người đàn bà phải thắt bụng chờ đợi. Chờ đến khi con gái lớn thỏ-thẻ:
“ Mẹ ơi, con muốn lấy chồng! “
lúc đó mới dám lấy hết nghị-lực thố-lộ cùng con:
“ Con ơi, mẹ cũng một ḷng như con ! “
Trong vài trường-hợp, khi người mẹ muốn tái-giá, phải có sự ưng-thuận của đứa
con: v́ nó là trưởng-tộc, có quyền ăn nói. V́ vậy, bà mẹ mới dụ con:
“ Ngày
sau con tế ba ḅ,
Sao bằng lúc sống con cho lấy chồng ...”
Người thiếu-phụ đang xuân muốn tái-giá đă vậy, ngay cả những bà cụ đi đứng không
muốn nổi, cũng hăm-he t́m lại hương-vị tuổi thanh-xuân. Tục truyền rằng: có một
ông lăo đă ngoài 60 muốn tục-huyền với một bà cũng xắp-xỉ bẩy mươi. Cụ bà chê
ông già. Ông cụ bị chạm tự-ái, liền khẳng-định:
“ Già th́
già tóc, già tai,
Già răng, già lợi, t́nh yêu không già ! “
Bà già nghe cũng xuôi tai, nhưng c̣n lưỡng-lự, nên đi hỏi thầy bói:
“ Bà
già đi chợ cầu Đông,
Bói xem một quẻ, lấy chồng, lợi chăng ?
Ông thầy xem quẻ, nói rằng:
- Lợi th́ có lợi, nhưng răng không c̣n!! “
bà già nghe vậy, nổi cơn lôi-đ́nh, đập ông thầy mấy đập, rồi nhảy xuống sông
tự-tử. Truyền-thuyết không thấy nói ông già có “xơi tái “ thầy bói hay không.

TINH YÊU VỢ CHỒNG
NGƯỜI LÍNH:
Được lệnh ṭng quân, người đi, kẻ ở lại: trăm t́nh ngổn ngang. Người thi-sĩ
b́nh-dân đă dùng ca-dao nói lên sự can-đảm của người vợ:
" Anh ơi!
em ở lại nhà,
Hai vai gánh-vác, mẹ già con thơ.
Lầm than đừng quản nắng mưa,
Anh đi, anh cố chen đua với đời.
Anh ơi phải lính th́ đi!
Cửa nhà đơn chiếc, đă th́ có em..."
anh chồng nghe vợ nhắn-nhủ, chàng liền quả-quyết:
"
Đắng: khổ qua, chua: là chanh giấy,
Dầu ngọt cho thế mấy, cũng cam sành.
Giặc Lang-Sa (Pháp) đánh đến bên thành,
Dẫu ai có ngăn qua, đón lại: dạ cũng không đành bỏ em! "
chàng c̣n an-ủi vợ:
" Chẻ
tre, bện sáo cho dầy,
Ngăn ngang sông Mỹ, có ngày gặp nhau!.."
đứng trước cảnh:
" Thùng
thùng trống đánh ngũ liên,
Bước chân xuống thuyền, nước mắt như mưa!..
người vợ lính không khỏi than-trách:
" Trời
ơi, sanh giặc làm chi
Cho chồng tôi phải ra đi chiền trường!.."
người chồng cũng chẳng khá hơn, mặc dầu không nói ra nhưng cũng thở dài, tự an-ủi:
" Lên xe, nghe tiếng thúc c̣i
Thương con, nhớ vợ, lệnh đ̣i phải đi!.."
Tiễn người yêu ra đi làm nghĩa-vụ
người trai, nàng thơ-thẩn kéo gót về nhà, qua cây cầu cũ:
" Qua
cầu, ngả nón trông cầu,
Cầu bao nhiêu nhịp, em sầu bấy nhiêu!..."
Mặc dù ḥa-cảnh đau-xót khi chồng phải xông-pha ngoài tiền-tuyến, người
chinh-phụ, nơi hậu-phương vẫn phải một ḿnh lo cho gia-đ́nh: nuôi mẹ, nuôi con,
nhưng vẫn không tránh khỏi cảnh nhiễu-nhương do kẻ có quyềøn hành:
" Cậu Cai
buông áo em ra,
Để em đi chợ, kẻo mà chợ trưa.
Chợ trưa: rau nó héo đi,
Lấy ǵ nuôi mẹ, lấy ǵ nuôi con!!..."
TINH YÊU NGOÀI V̉NG
ĐẠO-LƯ:
Tất cả những mối t́nh không đi vào khuôn-khổ vợ chồng, đều bị xă-hội lên án là
vô-luân. Có nhiều người con gái được tiếng là đoan-trang, ngoan-ngùy, lúc nào
cũng thỏ-thẻ với mẹ:
“ Mẹ ơi! con mẹ đồng-trinh!
nhưng biết đâu đó, v́:
“ tối ngủ một ḿnh tḥ bốn cái chân! “
Có khi người con gái chưa muốn lấy chồng, chỉ muốn t́m lạc-thú, nên nàng không
cần ǵn-giữ ǵ cả: chữ trinh đối với nàng không quan-trọng, nên quyết-định:
“ Chơi
cho thủng trống, long bồng,
Rồi ra ta sẽ lấy chồng, lập nghiêm.
Chơi cho thủng trống, long chiêng,
Rồi ra ta sẽ lập nghiêm, lấy chồng.... “,
nàng lại c̣n tự biện-minh:
“ Lẳng-lơ
th́ cũng chẳng ṃn,
Chính-chuyên cũng chẳng sơn son để thờ... “
Cũng có khi, nàng đă trót yêu một người, nhưng v́ cha mẹ ép-buộc hay v́ một lư-do
nào đó, nàng đă phải lấy một người khác làm chồng. Dù sao cũng không thể quên người yêu cũ:
“ Hai tay cầm hai quả hồng,
Quả chát phần chồng, quả ngọt phần trai.
Đêm nằm vuốt bụng thở dài,
Thương chồng th́ ít, nhớ trai th́ nhiếu... “
Đôi khi người nàng yêu, lại là chồng một cô bạn, nên đành đánh liều dụ bạn:
“ Của
chua, ai thấy chẳng thèm,
Em cho chị mượn chồng em vài ngày...”
nhưng khổ nỗi, ở đời người ta cho mượn đồ, mượn đạc, mấy ai cho mượn chồng? Bạn
nàng liền đáp:
“ Chồng
em đâu phải trâu cầy,
mà cho chị mượn cả ngày lẫn đêm!... “
“ Hỡi cô mặc yếm quá tầm!
Chồng cô đi lính, cô nằm với ai?
Cô nằm, cô đẻ thằng bé con trai.
Chồng về, chồng hỏi: Con ai thế này?
Cô ta bèn nhanh miệng trả lời:
“ Con tôi
đi kiếm về đây!
Có cho nó gọi bằng thầy th́ cho...”
Những mối t́nh vụng trộm, những mảnh t́nh vụn hoặc ngoài ṿng lễ giáo như trên
thường không được lâu bền! Làm sao có thể sống được khi mà cả xă-hội kết-án? Nền
luân-lư đó có nhiều điều hay, nhưng cũng không khỏi có lắm điều oan-ức!
KẾT LUẬN:
T́nh yêu đă chiếm một chỗ rất quan-trọng trong Ca-dao,Tục-ngữ Việt-Nam. Nó
phản-ảnh tinh-thần đa-cảm của người Việt: Dùng câu thơ, nhịp-phách để bầy-tỏ
nỗi-ḷng ḿnh, hoặc để dạy con, dậy cháu hay để châm-biếm xă-hội... Nó đă ăn sâu
vào huyết-quản mọi người dân Việt. Bất cứ hoàn-cảnh nào cũng có một vài câu
tương-ứng, làm như tất cả đời sống con người đă được thấy trước và đă xẩy ra như
được hoạch-định. Lịch-sử vẫn luôn tái-diễn, nhất là trong vấn-đề t́nh-cảm. Như
cảnh một gia-đ́nh xum-họp đă được diễn-tả trong ca-dao, sẽ măi-măi c̣n giá-trị,
dù thế-giới này có đổi-thay đi nữa, hay dù con người sống trong hoàn-cảnh nào
cũng vậy.
C̣n ǵ hạnh-phúc hơn cảnh:
“ Vợ
chồng là nghĩa tào-khang,
Chồng ḥa, vợ thuận, nhà thường yên-vui,
Sinh con, nuôi-nấng nên người,
Làm ăn thinh-vượng, đời-đời ấm no...”
Nguyện chúc các bạn được như thế!

THƯƠNG & NHỚ
Minh Châu biên soạn
Một khía-cạnh khác không kém phần quan-trọng trong việc đóng-góp vào sự tồn-vong của dân ta là tiếng Việt, với nguồn tài-nguyên phong-phú của ca-dao, tục-ngữ. Chúng tôi sẽ luận về ảnh-hưởng sâu-đậm của ca-dao, tục-ngữ trong dịp khác. Hôm nay chúng tôi chỉ xin ghi lại vài cái đẹp, cái hay của những vần thơ, những câu ḥ, điệu hát nói về THƯƠNG và NHỚ, để các bạn trẻ cùng chúng tôi thưởng-thức cái thâm-thúy của nó.
Trước hết chúng ta hăy nghe Xuân-Diệu định-nghĩa:
" Là thi-sĩ nghĩa là ru với gió,
Mơ theo trăng và vơ-vẩn cùng mây.
Để linh-hồn ràng buộc bởi muôn giây,
Hay chia sẻ bởi trăm t́nh yêu mến..."
Nói về t́nh-yêu, không ai trong chúng ta không thương mẹ, không nhớ mẹ, dù mẹ c̣n sống hay đă qua đời. Hạnh phúc cho những ai c̣n mẹ! Hăy phụng-dưỡng mẹ khi người c̣n bên ta. Mẹ già, mẹ xấu, mẹ quê mùa vẫn là mẹ ta ! Chúng ta ai mà không rươm-rưóm lệ, khi nghe Lưu trọng Lư nói về mẹ trong bài Mẹ tôi:
“ Tôi nhớ Mẹ tôi thủa thiếu -thời
Lúc Người c̣n sống tôi lên mười
Mỗi lần nắng mới reo ngoài nội
Áo đỏ Người đưa trước dậu phơi
H́nh dáng Mẹ tôi chửa xóa mờ
Hăy c̣n mường tượng lúc vào ra
Nét cười đen nhánh sau tay áo
Trong nắng trưa hè trước dậu thưa”
( Mẹ tôi - Lưu trọng Lư)
H́nh ảnh mẹ luôn luôn tồn-tại trong tâm khảm của chúng ta, chính v́ thế người con trai khi lấy vợ, thường t́m h́nh-ảnh mẹ nơi người yêu. Đôi khi người con trai v́ nhớ tới “ áo đỏ Người đưa trước dậu phơi” mà đem ḷng tương-tư ngựi con gái mặc áo lụa như Nguyên Sa đă than-thở:
Nắng Sàig̣n anh đi mà chợt mát,
Bởi v́ em mặc áo lụa Hà Đông
Anh vẫn yêu mầu áo ấy vô cùng
Thơ của anh vẫn c̣n nguyên lụa trắng.
Anh vẫn nhớ em ngồi đây tóc ngắn
Mà mùa thu dài lắm ở chung quanh
Linh hồn anh vội-vă vẽ chân-dung
Bầy vội-vă vào trong hồn mở cửa....
Em ở đâu hỡi mùa thu tóc ngắn
Giữ hộ anh mầu áo lụa Hà Đông
Anh vẫn yêu mầu áo ấy vô cùng
Giữ hộ anh bài thơ t́nh lụa trắng”
(Áo lụa Hà Đông - Nguyên Sa)
T́nh yêu đôi khi len-lén đi vào tim chỉ v́ những chiếc áo lụa, những nụ cười, những giọng nói. Ḿnh yêu lúc nào không hay ! Một khi t́nh-yêu chớm nở, nhớ-nhung trần đầy: nhớ ơi là nhớ !
“ Đêm qua Phạm Thái nhớ Quỳnh Như
Đồng mạ xanh non nhớ vũng hồ,
Chiêm nữ bâng-khuâng ngồi nhớ bạn
Ngũ-hoành-sơn có nhớ Tây-du ?
Trọng-Thủy lên đường, nhớ Mỵ-Châu
Ngưu-Lang, Chức-Nữ nhớ nhau sầu
Cô-Tô buồn nhớ Hàn-sơn-Tự
Bến nước Tầm-Dương nhớ thủa nào
Biết rồi Phạm Lăi nhớ Tây-Thi
Chim nhớ cành đa muốn trở về
Đêm cũ xa xưa đèn nhớ bóng
Đường-Minh-hoàng nhớ Dương-Quư-Phi