KHẢO CỨU ...
Một trang chữ Nôm
Bạn thân mến
Xin gửi đến quư bạn một trang chữ Nôm chụp lại từ bản gỗ của cuốn “Truyện Kiều” của ông Nguyễn Du, đang lưu trữ ở Thư viện Pháp. Bản “Truyện Kiều” của ông Bùi Kỷ hiệu khảo như sau:
Khúc nhà tay lựa nên chương,
Một thiên bạc mệnh, lại càng năo nhân.
Phong lưu rất mực hồng quần,
Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê.
Êm đềm trướng rũ màn che,
Tường đông ong bướm đi về mặc ai.
Ngày xuân con én đưa thoi,
Thiều quang chín chục đă ngoài sáu mươi.
Cỏ non xanh tận chân trời,
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.
Thanh Minh trong tiết tháng Ba,
Lễ là tảo mộ, hội là Đạp Thanh.
Gần xa nô nức yến anh,
Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân.
Dập d́u tài tử giai nhân,
Ngựa xe như nước áo quần như nêm.
1) Nguồn gốc và tác phẩm chữ Nôm
Cho đến nay, không có tài liệu nào đáng tin cậy để biết chính xác ai sáng lập chữ Nôm cũng như chữ Nôm có từ lúc nào! Chỉ biết rằng ngày nay chúng ta có trong tay một số tác phẩm viết bằng chữ Nôm rất hay vậy thôi. Trong sách “Việt Nam Văn Hóa Sử Cương”, trang 269, ông Đào Duy Anh cho rằng Sĩ Nhiếp (187 trước Tây lịch -226 trước Tây lịch) là người sáng lập ra chữ Nôm thế nhưng không nêu được bằng cớ rơ ràng hoặc suy luận có lư. Xem qua một số sách sử đáng tin cậy, đặc biệt là bộ sách “Đại Việt Sử Kư Toàn Thư” của nhóm Lê Văn Hưu (thế kỷ 13), Phan Phú Tiên và Ngô Sĩ Liên (thế kỷ 15), Phạm Công Trứ và Lê Hy (thế kỷ 17) th́ không thấy ghi lại bất cứ chi tiết nào về Sĩ Nhiếp và chữ Nôm. Nếu chỉ căn cứ vào sự kiện SĩNhiếp, một viên quan Trung quốc cai trị Việt Nam, truyền bá chữ Hán và các phong tục, lễ nghĩa, văn hóa của Trung quốc vào Việt Nam để giả sử rằng Sĩ Nhiếp là người sáng lập ra chữ Nôm th́ không mấy thuyết phục. Trong sách “Việt Nam Văn Học Sử Yếu”, trang 114, ông Dương Quảng Hàm viết: ”Theo sử chép, cuối thế kỷ 8 (791), Phùng Hưng là người nước ta nổi lên đánh thua quan Đô hộ Tàu và giữ việc cai trị trong ít lâu; sau ông được dân trong nước tôn lên là “Bố Cái đại vương”. Hai chữ Bố Cái là tiếng Nam thuần túy, nếu đă đem hai tiếng ấy mà đặt danh hiệu cho một vị chúa tể trong nước, th́ có lẽ phải có chữ để viết hai tiếng ấy, mà chữ ấy tất là chữ Nôm: vậy có lẽ chữ Nôm đă có từ cuối thế kỷ thứ 8 rồi.” Đối chiếu với sách “Đại Việt Sử Kư Toàn Thư”, trang 191, Tập 1, ghi như sau:
”Tân Mùi, (791). Mùa xuân, An Nam đô bộ phủ là Cao Chính B́nh làm việc quan bắt dân đóng góp nặng. Mùa hạ, tháng 4, người ở Dương Lâm, thuộc Giao Châu (chú thích: nay là tỉnh Hà Tây) là Phùng Hưng dấy binh vây phủ. Chính B́nh lo sợ mà chết. Khi Phùng Hưng mất, con là An tôn xưng Phùng Hưng làm Bố Cái Đại Vương (tục gọi cha là Bố, mẹ là Cáị)”
Nếu công nhận giả sử chữ Nôm có từ năm 791 và tính cho đến năm 1282 (tổng cộng 490 năm), là năm Hàn Thuyên làm bài “Văn tế cá sấu”, một câu hỏi đặt ra là có tác phẩm chữ Nôm nào lưu lại không? Sử sách cũng như dân gian truyền khẩu hoàn toàn không nói đến một vết tích chữ Nôm nào cả măi cho đến thời Hàn Thuyên. Như vậy, giả thuyết chữ Nôm có từ năm 791 rất đáng nghi ngờ bởi v́ trong 490 năm không lẽ người Việt Nam không có một tác phẩm nào sao? Thiển nghĩ th́ rất có thể tiếng “Bố Cái đại vương” chỉ là tiếng nói thông thường của người Việt Nam thời đó, không nhất thiết phải có chữ viết đi kèm. Lư luận “có tiếng gọi th́ có lẽ phải có chữ viết” chưa mấy thuyết phục! Không hẳn “có tiếng gọi th́ có lẽ phải có chữ viết” bởi v́ loài người đă nói với nhau cả ngàn năm rồi mới có chữ viết.
Trong bối cảnh Việt Nam, sự thật đơn giản là từ thời lập nước đến cả ngàn năm sau, người Việt Nam không nói tiếng Trung quốc mà nói th́ nói tiếng Việt, nhưng viết th́ v́ không có kiểu chữ riêng cũng như do hoàn cảnh bị đô hộ bởi Trung quốc khoảng 1,000 năm nên người Việt Nam bắt buộc phải sử dụng chữ Hán làm văn tự. Đây là sự kiện hiển nhiên khiến tôi khá bối rối với lập luận “có lẽ chữ Nôm có từ năm 791 căn cứ vào tiếng tôn xưng “Bố Cái đại vương”. Tôi nghĩ rằng chữ Nôm chắc chắn đă có trước năm 1282, nhưng vào năm nào th́ không ai có thể khẳng định được.
Cũng sách đă dẫn, trang 118, ông Dương Quảng Hàm viết: ”Trước đời Hàn Thuyên, quốc văn
ở nước ta chỉ có tục ngữ, ca dao, nghĩa là loại văn b́nh dân và truyền khẩu. Hàn Thuyên là người đầu tiên biết làm thơ phú bằng quốc âm, nên ông có thể coi là ông tổ văn nôm, loại văn bác học có theo qui tắc nhất định.”
Về bài văn ném xuống sông để đuổi cá sấu này, sử không chép rơ là viết theo thể văn nào và làm bằng Hán văn hay Việt văn (chú thích: ư nói chữ Hán hay chữ Nôm); vậy ta cũng không nên vội cho - như ư kiến thông thường- rằng bài ấy là một bài văn tế và viết bằng tiếng nôm. Chỉ khi nào t́m thấy nguyên văn bài ấy mới giải quyết được vấn đề ấy, mà hiện nay th́ bài ấy không thấy chép ở sách nào cả.”
Đối chiếu với sách “Đại Việt Sử Kư Toàn Thư”, trang 47, Tập 3, ghi lại như sau:
”Mùa thu tháng 8, năm 1282, đời vua Trần Nhân Tông: bấy giờ có cá sấu đến sông Lô (chú thích: tức sông Hồng ngày nay). Vua sai H́nh bộ Thượng thư Nguyễn Thuyên làm bài văn ném xuống sông, cá sấu bỏ đi. Vua cho là việc này giống như việc của Hàn Dũ (chú thích: văn hào Trung quốc, đời nhà Đường. Hàn Dũ làm bài văn tế cá sấu ném xuống nước, cá sấu liền bỏ đi hết), bèn ban gọi là Hàn Thuyên. Thuyên lại giỏi làm thơ phú quốc ngữ. Thơ phú nước ta dùng nhiều quốc ngữ, thực bắt đầu từ đấy.”
Như vậy rơ ràng Hàn Thuyên không phải là người sáng lập chữ Nôm mà chỉ là người đầu tiên được
sử sách ghi là “có
làm hai bài phú bằng chữ Nôm.” Xét về tác phẩm của Hàn Thuyên, sử sách chỉ ghi
rằng ông có làm “Phi sa tập” bằng chữ Hán, hai bài phú bằng chữ Nôm và đề xướng
lối làm thơ “Hàn luật”, tức là biến thể của thơ Đường.
2)
Tác phẩm chữ Nôm:
Một số tác phẩm viết bằng chữ Nôm nổi tiếng c̣n lưu lại như sau:
Thế kỷ 13: Hàn Thuyên: hai bài phú (thất truyền), Quốc ngữ thi tập của Chu An.
Thế kỷ 14: Trinh Thử của Lư Tế Xuyên.
Thế kỷ 15: Gia huấn ca của Nguyễn Trăi (1380-1442), Hồng châu quốc ngữ thi tập của Lương Như Học, Kim Lăng thi tập của vua Lê Thánh Tông (1442-1467) .
Thế kỷ 16: Ngư phủ nhập đào nguyên truyện của Phùng Khắc Khoan.
Thế kỷ 17: Ngọa long cương của Đào Duy Từ (1572-1634).
Thế kỷ 18: Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm, Cung oán ngâm khúc và Tây hồ thi tập của Nguyễn Gia Thiều (1741-1798), Hoa tiên truyện của Nguyễn Huy Tự (1743-1790), Văn tế vua Quang Trung của Lê Ngọc Hân, Tụng Tây hồ phú của Nguyễn Huy Lượng, Văn tế Vũ Tính và Ngô Tùng Chu (1801) của Đặng Đức Siêu, Văn tế trận vong tướng sĩ của Nguyễn Văn Thành.
Thế kỷ 19:
Truyện Kiều của Nguyễn Du (1765-1820), Xuân Hương thi tập của Hồ Xuân Hương,
Chiến tụng Tây hồ phú và Sơ kính tân trang của Phạm Thái (1777-1813), một số thơ
và hát nói của Nguyễn Công Trứ và Bà Huyện Thanh Quan, Lục Vân Tiên và Ngư tiều
vấn đáp của Nguyễn Đ́nh Chiểu (1822-1888), Đại Nam quấc âm tự vị của Huỳnh Tịnh
Của (1834-1907), Nam Việt Dương Hiệp Tự Vị (dịch từ chữ Hán) hoặc c̣n có tên
khác là Tự Điển Annam- La tinh (dịch từ chữ Dictionarium Anamitico-Latinum) do
Tổng giám mục Pierre Jepeph Pigneau/Pigneau de Béhaine (Bá Đa Lộc) soạn chưa
xong hẵn và được giám mục J.L. Taberd hoàn chỉnh (in năm 1838)- dầy 620 trang,
chữ được xếp theo thứ tự a b c như tự điển ngày nay, liệt kê chữ Nôm trước, kế
đó là nghĩa chữ Việt và chữ Latin, thỉnh thoảng có phụ thêm một số ca dao, tục
ngữ, thành ngữ. Đây là cuốn tự điển hoàn chỉnh nhất cho buổi ban đầu của chữ
Việt Nam viết theo kiểu chữ a b c bởi lẽ đơn giản là tất cả những chữ trong đó
vẫn c̣n được sử dụng cho đến ngày nay, từ nghĩa cho đến chánh tả! Nói cách khác,
cuốn tự điển này là cái gạch nối giữa chữ Nôm và chữ Việt viết theo kiểu chữ a b
c. Điều đáng buồn là đă gần 200 năm mà không thấy được một cải cách nào đáng kể
trong chữ Việt về cách viết văn, chữ mới và văn phạm! Có lẽ do hoàn cảnh chiến
tranh liên tục nên công việc phát triển chữ nghĩa chẳng có ai quan tâm đến?!
3) Cấu tạo chữ Nôm. (Xin coi bản chữ Nôm)
Có lẽ vào một ngày xa xưa nào đó, có một người Việt Nam nào đó muốn ghi chép và truyền bá văn học, lịch sử bằng chữ Việt thay v́ bằng chữ Hán như thông lệ, đồng thời cũng để bổ khuyết các âm, thanh và vận Việt Nam mà chữ Hán không có. Do nhu cầu như vậy, người đó suy nghĩ một cách tạo chữ mới theo nguyên tắc tượng thanh, nghĩa là nói sao, viết vậy - trái hẳn với nguyên tắc của cách viết chữ Hán: tượng h́nh, nghĩa là h́nh dáng của sự vật thế nào th́ viết giống thế đó. Loại chữ mới này được người Trung quốc gọi là chữ Nôm (do phát âm trại từ tiếng Hán: Nạn, nghĩa là Nam, chữ của người ở hướng Nam). Chữ Nôm cấu tạo theo 3 cách như sau:
1) Nếu chữ Hán nào đă được viết và nói trại ra tiếng Việt Nam phổ thông rồi (bị Việt hóa, c̣n gọi là tiếng Hán Việt) th́ cứ giữ nguyên như vậy mà viết và hoặc đọc y như Trung quốc hoặc đọc trại ra.
2) Ngoài trường hợp trên th́ viết chữ Nôm, thông thường là viết cả hai chữ Hán: một chữ để chỉ nghĩa và một chữ để chỉ thanh; không có qui luật nào về vị trí bên phải hoặc bên trái của chữ chỉ nghĩa và chữ chỉ thanh.
3) Ngoài ra, lối viết chữ Nôm nhiều khi chỉ lấy giọng đọc của chữ Hán để ghi lại âm thanh của tiếng Việt Nam mà thôi, không cần phải viết chữ Hán để chỉ nghĩa. Do cách cấu tạo khá rắc rối và tùy theo chủ quan phán xét của từng người viết chữ Nôm cho nên viết chữ Nôm c̣n được gọi là diễn Nom. Mỗi người diễn hay viết chữ Nôm đều có nét khác nhaụ Để làm sáng tỏ hơn, tôi trích vài câu thơ trong bản gốc ”Truyện Kiều” được viết theo lối chữ Nôm làm thí dụ như sau (lưu ư: thơ chữ Hán và chữ Nôm thời xưa không dùng các dấu chấm, dấu phẩy):
Thanh Minh trong tiết tháng ba
Lễ là tảo mộ hội là đạp thanh
Gần xa nô nức yến anh
Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân
Dập d́u tài tử giai nhân
Ngựa xe như nước áo quần như nêm
Ông Nguyễn Du đă viết các câu thơ trên đây bằng chữ Nôm như sau:
Thanh=cách
1: viết nguyên chữ Hán, thủy (nước) + thanh (trong suốt) = thanh.
Minh=cách 1: viết nguyên chữ Hán, nhật(mặt trời) + nguyệt(mặt trăng) =
sáng.
Thanh Minh: tên một ngày lễ đi thăm viếng, sửa sang mồ mă, ứng vào ngày 4,5,6 tháng Tư dương lịch, tức khoảng tháng Ba âm lịch.
Trong=cách
2, viết chữ “thụng” chỉ thanh và chữ “nội” chỉ nghĩa (bên trong).
Tiết=cách 1: viết nguyên chữ Hán “tiết”, khoảng thời gian được chia theo
khí hậu.
Tháng= cách 2, viết chữ “thượng” chỉ thanh và chữ “nguyệt” chỉ nghĩa (tháng).
Ba=cách 2, viết chữ “Ba” chỉ thanh và chữ “tam” chỉ nghĩa (số ba).
Lễ=cách 1: viết nguyên một chữ Hán “lễ”chỉ nghĩa.
Là=cách 3: viết chữ “La” chỉ thanh mà thôi, không dùng để chỉ nghĩa.
Tảo=cách 1: viết nguyên chữ Hán “tảo”, nghĩa là “quét”.
Mộ=cách 1: viết nguyên chữ Hán, phía trên là chữ “mạc” và phía dưới là
chữ “thổ”, đọc là mộ.
Hội=cách 1: viết nguyên một chữ Hán “hội”, nhưng bên trái có thêm chữ
“khẩu” (cái miệng) viết nhỏ lại để nhắc người đọc phải đọc khác chữ Hán. Lư do:
tiếng Hán không có âm ”hội”.
Là=xem
giải thích phía trên.
Đạp=cách 1: viết nguyên một chữ Hán “đạp”(lấy chân giẫm xuống đất).
Thanh=cách 3: viết chữ “thanh” giống y như chữ “thanh” nêu trên, nhưng
chỉ dùng để chỉ thanh mà thôi, không dùng để chỉ nghĩạ Nghĩa ở đây là đi chơi
giẫm lên cỏ xanh.
Gần=cách 3: viết chữ “bội” và “cân” chỉ thanh mà thôi, không dùng để chỉ
nghĩa.
Xa=cách 3: viết chữ “bội” và “xà” chỉ thanh mà thôi, không dùng để chỉ
nghĩa.
Nô=cách 3: viết chữ “no”, đọc trại, chỉ thanh mà thôi, không dùng để chỉ
nghĩa.
Nức=cách 2, viết chữ “tâm” (tâm tư) chỉ nghĩa và chữ “nức” chỉ thanh.
Yến=cách 1: viết nguyên một chữ Hán “yến” (chim yến).
Anh=cách 3: viết chữ “anh” (con nít) chỉ thanh mà thôi, không dùng để chỉ
nghĩa.
Chị=cách 1: viết nguyên một chữ Hán “tỷ”(chị).
Em=cách 2, viết chữ “nữ” (con gái) chỉ nghĩa và chữ “am” (nơi tu) chỉ thanh.
Sắm=cách 3: viết chữ “sám” (sám hối) chỉ thanh mà thôi, không dùng để chỉ nghĩa.
Sửa=cách
3: viết chữ “sở” (công sở) chỉ thanh mà thôi, không dùng để chỉ nghĩa.
Bộ=cách 1: viết nguyê một chữ Hán “bộ”(dáng điệu, làm kiểu).
Hành=cách 1: viết nguyên một chữ Hán “hành”, (đi).
Chơi=chữ khắc nḥa, đọc không được nên không đoán.
Xuân=cách 1: viết nguyên một chữ Hán “xuân”(mùa xuân).
Dập=cách 3:
viết chữ “tập” (ôn tập) chỉ thanh mà thôi, không dùng để chỉ nghĩa, đọc trại ra
dập”.
D́u=cách 3: viết chữ
“diệu” (diệu vơ dương oai) chỉ thanh mà thôi, không dùng để chỉ nghĩa.
Tài tử giai nhân=cách 1: viết nguyên chữ Hán.
Ngựa=cách 3:
viết chữ “ngự” (ngự trị), mă (ngựa) + ưu, chỉ thanh mà thôi, không dùng để
chỉ nghĩa.
Xe=cách 1: viết nguyên một chữ Hán “xa”(xe cộ), đọc trại ra là ”xe”.
Như=cách 3:
viết chữ “nữ” và chữ “khẩu” chỉ thanh mà thôi, không dùng để chỉ nghĩa,
đọc trại ra như”
Nước=cách 2, viết chữ
“hứa” chỉ thanh và chữ “thủy” (nước) chỉ nghĩa.
Áo=cách 3: viết chữ “ao” chỉ âm thanh mà thôi, không dùng để chỉ nghĩa.
Quần=cách 3: viết chữ “quân” chỉ thanh mà thôi, không dùng để chỉ nghĩa.
Như=xem giải thích ở trên.
Nêm=cách 2, viết chữ “niên” (năm tháng) chỉ thanh và chữ “mộc” (cây cối)
chỉ nghĩa.
4) Giá trị thực tế của chữ Nôm
Chữ Nôm có thể coi là một biến thể của chữ Hán, căn bản là bổ túc phần phát âm của tiếng Việt Nam mà âm Hán không có. Tôi có một vài kết luận về giá trị chữ Nôm như sau:
1) Tác phẩm chữ Nôm c̣n ghi nhận được trong 700 năm qua (thế kỷ 13- 19) đă được hoán chuyển từ (không phải dịch hoặc phóng tác) qua kiểu chữ a b c một cách dễ dàng bởi v́ cả hai kiểu chữ đều cùng một nguyên tắc: nói sao, viết vậỵ Kiểu chữ a b c mang lại nhiều điểm thuận lợi của một loại chữ viết, và v́ vậy, thay thế được chữ Nôm. Xét về ư nghĩa của tác phẩm th́ cả hai bản gốc và bản hoán chuyển đều có giá trị y như nhau bởi v́ cả hai đều nhằm ghi lại lời nói của người Việt Nam.
2) Cách cấu tạo chữ Nôm quá sức rắc rối: chữ Hán vốn đă có nhiều khuyết điểm, nay lại ghép âm và nghĩa cho một chữ nên thực sự đă nhân đôi, nhân ba cái phức tạp của chữ viết. Nói cách khác, chữ Nôm mang theo nó tất cả khuyết điểm của chữ Hán và làm cho vấn đề càng thêm lôi thôi khi có tham vọng biến thành kiểu chữ tượng thanh. Một chữ Hán là một chữ: người học chữ Hán phải học thuộc ḷng các nét của một chữ, có nhiều chữ có trên 30 nét!
V́ một chữ là một chữ nên chữ Hán khá nghèo nàn và cứng ngắc: không có chữ đồng nghĩa (thí dụ: accomplish = achieve, attain, complete, consumate, do, effect, execute, finish, fulfill, manage, perform), không lấy chữ gốc rồi từ đó phát sinh các chữ biến thể bằng cách sử dụng tiếp đầu ngữ (import, export, report, review, refer, prefer, predict, mislead, misdeed) hoặc tiếp vĩ ngữ (age: collection of, state of being, như: garbage, marriage, storage, hoặc ment: result, như: management, fragment) để thay đổi nghĩa của chữ gốc (đừng lầm với cách ghép chữ của chữ Hán qua việc sử dụng các bộ chữ gốc như bộ chữ nhân, khẩu, thổ, thủy, mộc, nhục, v.v...) hoặc không linh động để biến thể từ danh từ ra động từ của chữ gốc (câu “I have just read your e-mail” và câu “I will e-mail you about his accident.”) hoặc thiếu quá nhiều chữ preposition, conjunction, interjection, compound noun, đặc biệt là cấu trúc câu văn (sentence tructure/pattern).
3)Đặc điểm của chữ Hán là tượng ư, nghĩa là viết ra để diễn tả ư nghĩa, không thể nh́n mặt chữ mà phát âm được, không thể đọc theo cách ráp vần của chữ Anh, chữ Pháp, chữ Việt viết theo kiểu chữ a b c. V́ vậy, khi học viết chữ Hán th́ phải đồng thời học cách phát âm. Nếu gặp chữ Hán mà trước đó chưa học cách phát âm th́...câm, cũng như không thể đoán được nghĩa nếu chưa học đến. Tiếng Anh và Pháp th́ khác. Với các thí dụ chữ Anh ở trên, nếu biết nghĩa của chữ gốc và nghĩa của các tiếp đầu ngữ và tiếp vĩ ngữ, ta có thể đoán được nghĩa của chữ import, export,v.v...
4) Trong lịch sử, chưa bao giờ chữ Nôm được chính thức công nhận là chữ quốc ngữ; trái lại, thường được nhắc đến với ngụ ư khinh miệt: nôm na cha mách qué! Chữ Nôm chỉ được lưu truyền trong dân gian mà thôi (écriture démotique)
5) Ư nghĩ sáng lập chữ Nôm là một ư nghĩ hay trong chiều hướng bổ khuyết âm thanh và vận mà tiếng Hán không đáp ứng được cho tiếng Việt Nam, chỉ tiếc rằng lại lấy chữ Hán làm gốc!
+ Chữ Hán có một âm cho quá nhiều chữ (đồng âm), nói khác hơn là nhiều chữ có nghĩa khác nhau và viết khác nhau nhưng phát âm lại giống y như nhau; v́ vậy, đây là lư do chữ Hán phải được viết xuống giấy trắng mực đen th́ mới hiểu được đúng nghĩạ Trong khi tiếng Anh có 3 âm, tiếng Pháp có 4 âm, tiếng Hán có 5 âm th́ tiếng Việt Nam lại hết sức phong phú về âm thanh. Tiếng Việt Nam có 6 âm chính: không dấu, sắc, huyền, hỏi, ngă, nặng và 2 âm phụ: sắc nhập và nặng nhập dành riêng cho các tiếng đàng sau có phụ âm c, ch, p, t. Chính v́ nhiều âm thanh như vậy cho nên người ngoại quốc cảm thấy như nghe tiếng chim hót khi nghe người Việt Nam nói; một vài học giả c̣n kết luận rằng “trong tiếng Việt Nam vốn có nhạc.”
+ Tiếng Việt Nam cũng lại hết sức phong phú về vận. Tiếng Hán Việt (do mượn chữ Hán và đọc trại đi) của Việt Nam có rất nhiều vận mà tiếng Hán không có, thí dụ như: ui (vui vẻ, thụt lui), uôi (đuôi tôm, xong xuôi), ay (may mắn), au (trái cau), iu (đ́u hiu hút gió), ươu (con hươu, bướu ung thư), ăt (cắt thịt, sắt thép), ăn ( ăn năn), oan (lo toan), eo (bé tẻo teo, trong veo), út ( con út), un, uôt,uôn, ưt, ưn, ươt, en, eng, et, ec, ên, ênh, êng, êt, êc, êch, ưi, ươi, v.v... Có lẽ chính do nhu cầu này mà chữ Nôm được phát sinh.
6) Chữ Nôm
vốn đă thất bại ngay từ căn bản cấu tạo chữ, không truyền bá rộng răi được, v́
vậy luật tự nhiên là phải bị đào thải để trở thành một loại chữ viết xưa. Giá
trị duy nhất của chữ Nôm có lẽ là để tham khảo các tác phẩm văn học thời xưa mà
thôi. Không nên luyến tiếc làm ǵ!
Khi người Mỹ viết về chữ Nôm!
Quư bạn thân,
Xin gửi đến quư bạn một bài viết của một người Mỹ về chữ Nôm. Mặc dù dốt về chữ Hán, chữ Nôm, cũng như tập quán của văn học sử phương Đông, nhưng ông Mỹ này và nhiều người phương Tây đă và vẫn tiếp tục “nhảy xổm” vào mà... bốc thXX!!! Tôi sẽ viết bài phê b́nh sau, nhưng bây giờ cứ đọc cho... lên máu:
"In Vietnam, a literary tradition nears extinction" by Colin Campbell, 11/21/2000.
About 40 people showed up Friday evening at Borders Books on Peachtree Road to hear the American poet and translator John Balaban discuss Ho Xuan Huong (”the queen of Vietnamese poetry”) and read from his brilliant new translation of her verse, “Spring Essence". The appreciative audience included eight or 10 Vietnamese-Americans. I'm not surprised that some members of Vietnam's far-flung diaspora are curious about a 200-year-old poet who wrote exquisite verses about life and love, loss and sex, nature and power, corruption and transcendence. Nor is it surprising to learn from Balaban that he recently found copies, in Vietnam's bookstalls, of half a dozen new editions of Ho Xuan Huong's verse. People love her over there. She was clever, patriotic, erotic, moving —- and slyly subversive of the mandarins and other old men who ran the country in her era. I 'll bet her brave wit and sense of justice in dark times strike a chord in today's Vietnam, which is still run by the Communists who consolidated their power there in 1975. (President Clinton mentioned Ho Xuan Huong's appearance in Balaban's new book, as an example of positive “globalization,” in a Friday-night toast in Vietnam.)
What amazed me, though, was that the original written language in which Ho Xuan Huong composed —- Nom, an ideographic script that looks like Chinese but represents Vietnamese, and which is written with about 25,000 characters —- is on the verge of dying out even in Vietnam. Only about 30 people, most of them elderly, still read Nom. Until Balaban's book, the only ways in which it was reproduced were by hand, or using woodblock type, or, most recently, through xerographic copies. The Vietnamese have written their language in Roman letters in a system introduced by Europeans and spread with an eye toward making reading easier while breaking the power of the mandarins. Balaban's book is the first anywhere to print the poems in digitized Nom. The digitization is partly the work of a linguist named Ngo Thanh Nanh, who was born in Vietnam and works at New York University. Balaban talked with me about all this after his reading, and I learned that he'd joined forces with a group of Vietnamese and other scholars and launched a brave enterprise called the Vietnamese Nom Preservation Foundation (nomfoundation.tripod.com). The foundation hopes to raise consciousness about the possible loss of a 1,000-year-old literary tradition; to raise money; to digitize the whole Nom language (the printing of Ho Xuan Huong's poems needed only about 1,000 characters); to complete and print a Nom dictionary, which has been in the works in Hanoi for years; and, by keeping the written language alive, make sense of several Nom libraries. The largest of these is a seedy old library in Hanoi. But there are also important holdings in Paris and the Vatican (French and Portuguese priests hauled off a good many books centuries ago) as well as in the US., China, Japan, Britain, Germany and Holland. There's also a rare collection that was spirited off to France for safety at the end of World War II —- reportedly at Ho Chi Minh's request. Its guardian subsequently kept the volumes and has since died. And what's in these books? Balaban, now a professor of English at North Carolina State University in Raleigh, widened his eyes at the possibilities. The texts include works of literature, law, Buđhism, medicine, philosophy and history. And among their historical tidbits Balaban has heard that one royal text deals with importing parrots and other tropical luxuries from the Spratly Islands —- tiny dots in the South China Sea that are claimed by several countries (China and the Philippines as well as Vietnam) and that may sit on top of a huge petroleum reserve. Large “dead” literatures can be full of surprises.

Du Ca
Trích VB, 28/11/00
Dựa theo bài viết của Phạm Hoàng trong tập san Thụ Nhân Houston
2000, Phong Trào Du Ca được thành lập bởi các anh chị trong ban Trầm Ca. Ban
Trầm Ca là đứa con tinh thần đầu tay của 6 vị Tráng Sinh cư ngụ tại Thành Phố Đà
Lạt. Họ là quư anh Nguyễn Đức
Quang, Mai Thái Lĩnh, Hoàng Kim Châu, Trần Trọng Thảo, Đinh Gia Lập và Nguyễn
Quốc Văn. Mùa Hè năm 1965, họ cùng với Giáo
Sư Trường Quốc Gia Âm Nhạc, Cô Đỗ Phương Oanh,
thành lập ban Trầm Cạ Châm ngôn của Tráng Sinh là ”Giúp Ích”. Cho nên ban Trầm
Ca đă làm một viễn chinh trên khắp mọi miền đất nước mang tiếng hát lời ca để
phục vụ tha nhân và tạo sinh khí cho cuộc sống khổ nạn của dân tộc Việt. Bất kể
nguy hiểm, họ vẫn hiên ngang bộ hành trên những đại lộ xuyên thành phố, nằm đất,
ngủ dưới mưa, hát ở bất cứ nơi nàọ Tiếng hát
và sinh hoạt của ban Trầm ca được sự hưởng ứng mạnh mẽ của các anh chị em sinh
viên khắp nơi và số người tham gia các khóa huấn luyện Thanh Ca Tác Động rất
đông. Chính họ là những “hạt nhân của phong trào du ca” về saụ Khi Phong Trào Du
Ca được Bộ Thanh Niên ban giấy phép hoạt động trên toàn lănh thổ miền Nam th́
anh Nguyễn Đức Quang đă trở thành cánh chim đầu đàn. Các toán Du Ca lần lượt
được thành lập, đầu tiên ở Huế, Đà Nẵng, Nha Trang, Đà Lạt, Ban Mê Thuột, Sài
G̣n, Tây Ninh, Vĩnh Long, Cần Thơ, An Giang...
Càng ngày đoàn viên tham dự càng đông. Trụ sở của phong trào Du ca được đặt tại
số 114 Sương Nguyệt Ánh. Chủ tịch đầu tiên là anh
Hoàng Ngọc Tuệ và anh
Nguyễn Đức Quang là
Trưởng Xưởng. Ngoài việc du hành tŕnh diễn, Phong trào tiếp tục mở các xưởng
huấn luyện để đào tạo thêm Huynh Trưởng Du Cạ Số nhạc sĩ du ca cũng là những
nhạc sĩ tên tuổi trong làng âm nhạc Việt Nam như
Nguyễn Đức Quang, Ngô Mạnh Thu, Nguyễn Quyết Thắng, Trần Đ́nh Quân, Tôn Thất Lan,
Trương Quang Mẫn, Nguyễn Hữu Nghĩa, Nguyễn Minh Nữu, Vũ Hữu Định, Phạm Minh Hùng,
Trần Trọng Nam, Trầm Tử Thiêng, Giang Châu, Nguyễn Thiện Cơ, Bùi Công Thuấn, Lưu
Quang Diệp... Được
phép của Cha Viện Trưởng, ngày 19 tháng 12 năm 1966 tại Giảng Đường Spellman,
đại học Đà Lạt, đêm văn nghệ ra mắt Phong Trào Du Ca được thực hiện và thành
công mỹ măn. Xin mượn lời văn của tác giả Phạm Hoàng để mô tả lại buổi văn nghệ
ra mắt Phong Trào Du Ca 34 năm về trước:
“Trong cái lạnh cắt da của mùa Giáng Sinh Đà Lạt, những ánh đuốc bập bùng kéo dài từ cổng Viện vào đến giảng đường do những sinh viên mặc những bộ đồ đen cầm đuốc soi đường. Ban tổ chức là một số các anh chị tự nguyện của trường Chánh Trị Kinh Doanh Khóa 1 như Trần Văn Chang, Trần Văn Hùng, Trần Phú Hữu, Nguyễn Quang Tuyến, Trần Trọng Thức, Đoàn Công Chánh Phú Lộc, Trần Tiễn Tuấn, các chị Trần Khánh Tuyết, Hoàng Lan Anh, Bùi Thị Ngọc Nga...Ngoài các thành viên sáng lập Phong Trào c̣n có sự hiện diện của các nhà thơ Đỗ Quư Toàn, Trần Dạ Từ, Nhă Ca, Viên Linh, Tú Kếu và nhà báo Nguyễn Ngu Í cùng các anh Hoàng Ngọc Tuệ. Đỗ Ngọc Yến, Hà Tường Cát... Ngoài sự yểm trợ tinh thần và vật chất của Cha Viện Trưởng, c̣n có sự yểm trợ rất đắc lực của anh Phương Thảo Đào Văn Ḥa, giám đốc cơ quan USIS Đà Lạt. Bảy thành viên sáng lập tŕnh diễn ca nhạc, kịch ngắn, thơ. Các nhà thơ Đỗ Quư Toàn, Trần Dạ Từ, Nhă Ca, Viên Linh, Tú Kếu đă diễn đọc những bài thơ “rất nóng” của chính họ cùng với tiếng đàn dương cầm của Thanh Thoại. Không khí ấm cúng, thân t́nh, chứa chan t́nh dân tộc qua các bài ca cổ, dân ca ba miền và các sắc tộc, các bài nhận thức cạ..khiến cho khán giả đa số là anh chị em sinh viên nhận thấy rằng đáng có một thứ văn nghệ lành mạnh, ư thức, mời gọi, thúc giục để đối kháng với cái gọi là văn nghệ ái t́nh ru ngủ, văn nghệ phản kháng vô trách nhiệm.”
Ở thế hệ sau, tôi không biết ǵ nhiều về Phong Trào Du Ca, v́ khi các anh chị viễn hành trên khắp nẻo đường Việt Nam th́ tôi vẫn c̣n là một trẻ nhỏ bận rộn nhẩy ḷ c̣ với bạn bè. Khi tôi nghe đến Phong Trào Du Ca cũng là lúc tôi theo gia đ́nh rời quê hương. 25 năm sau, đêm nay, tôi mới có cơ hội được lắng nghe lời t́nh tự dân tộc qua những gịng tâm tưởng từ đáy tim của các anh chị trong nhóm Du Ca ngày nào. Những bài hát tôi vẫn nghêu ngao hát theo băng nhạc và trong những lúc sinh hoạt Hướng Đạo bây chừ mới thấm vào tâm tưởng tôi.
![]()
Những phát hiện từ Bản Kiều nôm cổ nhất VN
VIỆT NAM 02-07.- Bản Kiều Nôm được xem cổ nhất hiện nay là bản Kim Vân Kiều Tân
Truyện Liễu Văn Đường in năm Tự Đức thứ 19 (1866). Tiến sĩ nghiên cứu văn học
Đào Thái Tôn đă có những phát hiện riêng thật thú vị về bản Kiều Nôm này.
Theo báo Tuổi Trẻ, trong hiện trạng tất cả bản Kiều hiện có đang ở dạng “tam sao
thất bản” th́ việc một số nhà “Kiều học” dành công sức mong t́m về “nguyên lời
Nguyễn Du” được xem là những người có công với nền văn học.
Gọi là bản Kiều Nôm cổ nhất bởi nó được phát hiện tiếp sau bản Kim Vân Kiều Tân
Truyện cũng của nhà tàng bản (khắc in) Liễu Văn Đường in năm Tự Đức thứ 24
(1871).
Tuy hai bản Kiều cùng chung một nhà tàng bản và chỉ khắc cách nhau trong ṿng
năm năm nhưng không hoàn toàn giống hệt nhau về nội dung, nét chữ khắc. Hiện bản
Kiều năm 1871 thuộc trường Sinh Ngữ Đông Phương Paris.
C̣n bản Kiều năm 1866 vừa mới phát hiện cuối Tháng Năm 2004 trong tủ sách gia
đ́nh cử nhân Nguyễn Thế Cát (1855-1937) ở xă Thanh Lương, huyện Thanh Chương (Nghệ
An), nay đă được chuyển về Ban Quản Lư Di Tích Nguyễn Du, huyện Nghi Xuân (Hà
Tĩnh).
Đi sâu nghiên cứu, đối chiếu, so sánh từng câu, chữ bản Kiều năm 1866 với các
bản Kiều đời Tự Đức, ông Tôn phát hiện: “Hễ ai đă để tên tuổi của ḿnh vào bản
Kiều từ Liễu Văn Đường 1871 qua Duy Minh Thị 1872 đến Trương Vĩnh Kư 1875, hai
bản vừa chữ Nôm, chữ quốc ngữ, chữ Pháp của Abels des Michels và Edmond
Nordemann 1894 đến Kiều Oánh Mậu 1902 đều sửa chữa một cách có ư thức, làm tăng
vốn từ ngữ Truyện Kiều!”
Thống kê trên 1,100 câu thơ lục bát (nghĩa là xác suất gần 1/3 Truyện Kiều), ông
cho thấy từ ngữ mới của Truyện Kiều được gia tăng dần theo thời gian. Nếu lấy
bản Kiều Liễu Văn Đường năm 1866 làm chuẩn th́ bản Kiều Duy Minh Thị đă sinh ra
326 chữ mới.
Cũng như thế, bản Kiều Trương Vĩnh Kư lấy 154 chữ mới của Duy Minh Thị và thêm
183 chữ mới khác. Vậy đến bản Trương Vĩnh Kư, kho từ ngữ mới của Truyện Kiều đă
lên tới 509 chữ.
Tương tự, sau khi lấy chữ của hai người này th́ Abels des Michels thêm 28 chữ
mới (=537 chữ). Tiếp theo, Edmond Nordemann, sau khi tiếp thu chữ của ba người
kia, thêm vào 78 chữ mới (=615 chữ). Đến Kiều Oánh Mậu dùng một số chữ của bốn
người nêu trên và đă sinh thêm 167 chữ mới khác.
Tổng cộng có 782 chữ mới được sinh ra làm Truyện Kiều cứ “tam sao thất bản” đời
này qua đời khác. Đây là nguyên nhân khiến những bản Kiều càng về sau càng xa
dần bản Kiều Nôm năm 1866 đang được xem là cổ nhất.
Ông Tôn đă có chín năm đi xác minh các văn bản Kiều cổ theo phương pháp nghiên
cứu văn bản học (khác hẳn với phương pháp hiệu đính cũ), tiếp nối công tŕnh
Kiều tầm nguyên (t́m về nguyên lời Nguyễn Du) do học giả Hoàng Xuân Hăn đang
viết dang dở trước khi ông qua đời tại Pháp (1996).
Ông đă hoàn thành bản thảo, chuẩn bị cho ra mắt cuốn “Bản Liễu Văn Đường 1871 và
vai tṛ của nó trong vấn đề lịch sử văn bản Truyện Kiều” dày khoảng 650 trang
trong đó có hơn 100 trang nghiên cứu văn bản học.
Nhưng khi bắt gặp, nghiên cứu tiếp bản Kiều cổ năm 1866 th́ ông Tôn đă không
ngần ngại dỡ bản thảo này để làm lại bắt đầu từ bản Kiều 1866.
Ông Tôn nói cuốn nghiên cứu mới nhất về Truyện Kiều của ông mang tên “Bản Liễu
Văn Đường 1866 và vai tṛ của nó trong lịch sử văn bản Truyện Kiều” sẽ ra mắt
bạn đọc đúng dịp giỗ 240 năm ngày mất của đại thi hào Nguyễn Du.

KHẢO CỨU: Viết tiếng Việt
Xin phép bạn Phạm Văn Bân thuộc khoá 7 Chính Trị Kinh Doanh thuộc
trường Đại học Đalạt cho post bài viết của bạn đă đóng góp 5 năm trước trong "THỤ
NHÂN" để có thêm phương tiện dạy con cháu viết tiếng Việt.
“Vát Than Nặng Thở Thang”
Khi đọc tựa của bài này, nếu bạn không thấy viết sai chánh tả th́ xin bạn...duyệt
xét lại khả năng viết tiếng Việt của bạn. Tôi xin đưa thêm vài thí dụ để bạn tự
phán xét :
“Té chưới vô bượi chúi” và
"Paulus Húnh Tịnh Của”, "Nguiễn Khuiến”. Có ǵ
sai hoặc...kỳ kỳ không?
Các thí dụ trên rất phổ biến khi dạy về chánh tả tiếng Việt. Viết
“c” hay
“t”, có “g” hay không
“g”, dấu
“hỏi” hay “ngă”, vần “úi”
và “ưới”, “ụi”
và ượi”, “i” và
“y”, v.v...là một vài vấn đề mà chúng ta
nên chú ư khi viết tiếng Việt.
Có phải v́ là tiếng mẹ đẻ nên chúng ta chủ quan, không lưu ư viết cho đúng chánh
tả? Hay v́...lười? Hay v́ phát âm sai cho nên viết sai? Hay v́ vấn đề chánh tả
không quan trọng ǵ hết, miễn sao người khác hiểu chữ và ư mà bạn muốn thông đạt
là được rồi? Để trả lời cho những câu hỏi này, xin hỏi bạn rằng nếu trong trường
hợp nào đó, bạn viết tiếng Anh, bạn có viết như sau không: He do thiz becose
himseo love I so much. Hỏi tức trả lời.
Không viết th́ thôi, c̣n nếu đă viết th́ cố gắng viết cho đúng chánh tả càng
nhiều càng tốt. Điều may mắn cho chúng ta là tiếng nói và chữ viết Việt Nam
không đến nỗi rắc rối quá như các thứ tiếng khác. Tuy vậy, bạn, người Việt Nam,
vẫn phải bỏ th́ giờ và công sức học hỏi nếu bạn muốn nói, viết và sử dụng tiếng
Việt tương đối đúng nghĩa và thông thạo. Tôi dùng chữ “tương đối” bởi v́ trên
nguyên tắc, tất cả chúng ta đều phát âm sai, viết sai và trong chừng mực nào đó,
không hiểu được tường tận ư nghĩa của tiếng mà chúng ta sử dụng!
Để hiểu tiếng Việt đến mức
“thấu t́nh đạt lư”,
bạn không có cách nào khác là phải am tường cái gốc 70% tiếng Hán của nó! Nếu
không học tiếng Hán th́ phải có tự điển tiếng Việt để tra chánh tả và nghĩa chữ.
C̣n nếu sử dụng máy điện toán cá nhân th́ nên mua software VNI Tân Việt 2000,
trong đó bộ “Việt Nam Tự Điển” của Lê
Văn Đức và Lê Ngọc Trụ đă được bỏ vào, cùng với bộ phận sửa lỗi chánh tả “Thầy
C̣ 2001”.
Tiếng Việt rất phong phú về âm, vận và thanh. V́ vậy, khi mượn bộ chữ Latin để
kư âm tiếng Việt, các nhà truyền giáo đă phải sáng tạo nhiều kư hiệu CHỮ để phản
ánh cho đúng giọng nói, cũng như để phân biệt các âm gần giống nhau. Công tŕnh
này là một tài sản quư báu vô vàn cho dân tộc Việt Nam mà chúng ta đang thừa kế,
mặc dù chưa được hoàn chỉnh ở một vài chi tiết. Hệ thống chữ viết này xây dựng
trên một nguyên tắc then chốt : nói sao, viết vậy. Hầu hết các tranh căi về
chánh tả tiếng Việt đều xuất phát từ nguyên tắc này.
Căn cứ vào đâu mà nhận xét đúng hay sai chánh tả? Một khi bạn cho rằng viết “vát”
là sai, phải viết “vác”, “than”
phải viết không có “g”, “thở
thang” phải viết “thở than”, “Húnh”
phải viết “Huỳnh”, v.v... tức là bạn đă
chấp nhận một nguyên tắc phổ cập trong ngôn ngữ: quy ước chung được đa số mọi
người chấp nhận. Cái ǵ không phù hợp với quy ước chung là sai - mặc dù quy ước
chung đôi khi không hợp lư! Cho đến khi nào chúng ta có một hàn lâm viện thống
nhất các vấn đề c̣n đang tranh căi th́ mới chấm dứt được. Trong khi chờ đợi th́
vẫn cứ...”mổ ḅ”.
Tiếng Việt Nam thống nhất cho nên việc kư âm (kư
hiệu âm thanh-phonetic symbols) để sáng tạo một hệ thống chữ viết chung
cho cả nước sử dụng là điều có thể làm được. Trái lại, tiếng Trung quốc phát âm
hoàn toàn khác nhau từ tỉnh này đến tỉnh kia, v́ vậy, hầu chắc không thể thống
nhất theo kiểu chữ Latin được mà măi cho đến nay, chỉ có thể thống nhất theo hệ
thống chữ tượng h́nh, biểu ư: viết cùng một loại chữ nhưng đọc khác nhau.
V́ hai kiểu chữ khác nhau, vấn đề phiên âm nảy ra. Khi viết về tên địa phương
hoặc nhân vật Tây phương, người Trung quốc không có cách nào khác hơn là phải
phiên âm. Nếu đang viết một loạt chữ Hán mà chen vào kiểu chữ Latin th́ quả là
điều hết sức phiền toái cho người viết cũng như người đọc, bởi cái cốt lơi của
chữ Hán là biểu ư, không ráp vần lại mà đọc được, phải học thuộc ḷng cách phát
âm của từng chữ một và phát âm theo giọng Bắc kinh hay địa phương là tùy theo
người học. Người Trung quốc bắt buộc phải phiên âm ṭan bộ tên ngoại quốc để
thông đạt trong tiếng Hán.
Câu hỏi đặt ra là người Việt Nam có nên bắt chước phiên âm không? Theo thiển ư
của tôi, chúng ta không nên phiên âm bởi lẽ rất đơn giản là chúng ta sử dụng hệ
thống chữ Latin để ghi lại giọng đọc. Chúng ta có thể viết lại đúng nguyên văn
tên gốc của địa phương hay nhân vật và mọi người Việt Nam đều có thể đọc được -
đọc trúng giọng hay không là chuyện khác, nhưng ít nhất là đọc được.
Nên viết New York, Washington, Portugal, Spain,
tránh viết Nữu Ước, Hoa Thịnh Đốn, Bồ Đào Nha,
Tây Ban Nha (có khi lại phiên âm là Y Pha Nho), v.v... bởi v́ cuối cùng,
cái gốc của việc phiên âm này chỉ xuất phát từ khổ nạn của bản thân chữ Hán mà
thôi. Chữ viết Việt Nam theo mẫu tự Latin không dính dáng đến khổ nạn này. Khi
phân tích về âm “gi” và “d”,
trong bài “Chánh tả với tự nguyên”, viết ngày 29/05/1953, GS Lê Ngọc Trụ viết:
“Chúng ta hay lầm lẫn hai âm “gi”
và “d”; nếu không xét nguồn gốc th́ khó
phân biệt. Như tiếng “Gia Tô”: đúng theo
nguồản gốc của nó phải viết “D”: Da Tô. Tiếng
Da
Tô là tên “Jésus” dịch âm. Có lẽ
các cố đạo khi xưa đă tùy cách phát âm mỗi xứ mà âm tên của Chúa Jésus. Ở Việt
Nam th́ âm Giê Su, phát âm gần giống với tên Jésus; âm “Gi”
ghi đúng âm “J”. Ở Trung Hoa th́ ghi âm:
Dè Xố Kí Lị Xứ Túc (Jésus
Christ). Tiếng Trung Hoa không có âm “J”,
phải mượn âm “D” thế. Phát âm theo giọng
Hán Việt th́ là “Da Tô Cơ Lợi Tư Đốc”.
Sau ta mượn dùng, gọi tắt là đạo “Da Tô”
hoặc đạo “Cơ Đốc”. (Cơ
Lợi Tư Đốc thâu bớt).”
Muốn viết đúng chánh tả Việt Nam th́ phải phát âm cho đúng. Cái khổ là không
người Việt Nam nào phát âm đúng cả! Người miền Bắc nói sai các âm “Ch
và Tr “, “X
và S”, “Gi,
D và Z”
nhưng giọng “hỏi, ngă” và các âm cuối chữ
như “c/t”, “ai/ay”, “ao/au”, “ăng/ăn”, “ác/át”,
v.v...lại nói đúng. Nếu áp dụng nguyên tắc “nói
sao, viết vậy”, người miền Bắc sẽ viết:
Chuyện cḥ ḷng ẓng cũng như đọc chuyện: có ź xung
xướng đâu?
(Chuyện tṛ ḷng ṿng cũng như đọc truyện: có ǵ sung sướng đâu? )
Chữ “chuyện” là tiếng Việt thuần túy, c̣n
gọi là tiếng nôm, nghĩa là việc hoặc sự ǵ đó được bàn bạc với nhau:
chuyện tṛ, chuyện văn, nói chuyện.
C̣n “truyện” là tiếng Hán Việt, nghĩa là
sách chép sự việc truyền lại đời sau: truyện cổ
tích, truyện kư, liệt truyện.
“Xung xướng” có lẽ để nghe cho dịu đi,
xin bạn thử nói: “Sờ soạng sung sướng”
và lắng nghe giọng đọc của bạn th́ sẽ thấy hơi khó phát âm và khó nghe. Người
miền Trung lại phát âm rất khác nhau. Người Nghệ Tĩnh nói rất đúng các âm khởi
đầu, nhưng lại không nói rơ dấu hỏi, ngă hoặc ngă, nặng. Đi dần vào Huế, Quảng
Nam, Quảng Ngăi, B́nh Định th́ giọng nói khá nặng. Nếu áp dụng nguyên tắc
“nói sao, viết vậy”, người Quảng Ngăi sẽ viết:
-Eng th́ eng, không eng tét đèn đi ngủ.
(Ăn th́ ăn, không ăn tắt đèn đi ngủ).
Đi về phía Nam nữa, như Nha Trang, Phan Rang, Phan Thiết th́ tiếng nói lại pha
trộn âm hưởng của dân Chiêm Thành, giọng nói nhẹ hơn. Tiến đến miền Nam th́
giọng đọc khác hẳn miền Bắc. Trong cuốn “Chánh
tả Việt Ngữ”, trang 22-23, giáo sư Lê Ngọc Trụ viết:
“Có lẽ nhờ khí hậu của đồng bằng
sông Cửu Long và đất đai ph́ nhiêu dễ sanh sống mà người miền Nam ít hay chịu
khó. Cứ nói những vận “dễ”, thêm tật “ít chịu khó” (principe du moindre effort)
- tật mà ông Phan Văn Hùm gọi là sự “lười tự nhiên” - đă đổi luôn mấy vận “khó”
cho trở thành vận “dễ”, lâu đời thành quen, không sửa chữa được và không biết
sai mà sửa chưă.”
Cùng với tật “ít chịu khó” ấy, người Nam
phát âm “v” ra “b”,
“gi” ra “d”,
“hoa” ra “qua”.
Tóm lại, trong Nam phát âm sai nhiều bởi tại không cố gắng nói đúng những giọng
“khó”, và v́ vậy, nên thường viết sai. Các vận khó đối với người miền Nam là:
ay đọc thành ai,
iêm, iêp, iêu đọc mất chữ ê thành im, ip,
iu;
au đọc thành ao;
ượi, ươi, ươu
đọc mất chữ ô, ơ thành ứi,
ưi, ưu;
âm, âp đọc thành ăm, ăp;
ong, oc, ươm, ươp, ơm, ơp
đọc thành ông,
ôc, uôïm, uôp, ôm, ôp.
Ngoài ra, người miền Nam không phân biệt dấu hỏi, ngă: tất cả đều đọc theo dấu
hỏi.
Có lẽ do hoàn cảnh lịch sử, gốc tích của người Việt Nam phát xuất từ đồng bằng
sông Hồng và sau đó tiến dần vào miền Nam nên giọng Bắc chính là giọng nguyên
thủy Việt Nam và người ta đă mặc nhiên chọn giọng miền Bắc làm tiêu chuẩn. Một
hiện tượng dễ nhận thấy là trừ khi hát Cải lương, tất cả mọi người không phân
biệt miền, vùng đều sửa giọng để hát theo giọng Bắc hết.
Phát âm đúng th́ viết đúng chánh tả. Nhưng có lẽ chúng ta nên làm ngược lại:
viết cho đúng chánh tả rồi học cách phát âm từ cách viết! Hầu hết các trường hợp
sai chánh tả dẫn đến sai ư nghĩa của chữ, đặc biệt là sự lẫn lộn giữa tiếng Việt
thuần túy (Nôm) với tiếng Hán Việt, trong đó khổ nạn phát âm sai v́ các âm đầu
và âm cuối gần giống nhau, hoặc v́ dấu hỏi, ngă, hoặc v́ tiếng đồng âm quá sức
nhiều làm ư nghĩa của đa số tiếng bị lầm lẫn! Dưới đây là vài thí dụ viết đúng
chánh tả :
1- D, GI và V:
Da: da cóc, da dẻ, da nhăn, con ma da...
Gia: thêm vào: gia roi, gia ân, gia công,
gia giảm, gia hại, gia băo, gia biến, gia cảnh, gia giáo, gia huấn, gia phả, sui
gia...
Va: va chạm, vi va vi *t...
Già: già cả, già khằn, rừng già, Già Lam,
du già (Yoga), ngồi kiết già...
Và: anh và em, và cơm, cái tù và, chà và...
Dát: dát vàng, dát sắc, dát gan, văn dốt
vũ dát...
Giác: giác hơi, cá giác...
Giát: nói giớt giát...
Vác: khiêng vác, xốc vác, vác súng, một
vác lưới...
Vát: thuyền chạy vát, ván cắt vát...
Dan: dan díu, nói chuyện dan ca, dan nắng...
Dang: dang cánh chim, đứng dang ra...
Gian:
gian dối, ăn gian, kẻ gian, gian ác,
gian hiểm, gian dâm, gian nhà, không gian, trần gian, gian khổ, gian nguy, gian
truân...
Giang: có giang xe, giang sức, giang tay,
lạt giang, giỏi giang, giang sơn, giang khẩu, Tiền giang....
Van: van lơn, kêu van, xin van...
Vang: vang dội, vang lừng, tiếng vang, vẻ
vang, rượu vang, vênh vang...
2/ S và X:
Sa: sa chân, sa sút, chim sa, sa mỡ, cây
sa kê, Sa Đéc, sa môn, hàng sa (lụa mỏng), sa đọa, sa mạc, sa sả, sa thạch, sa
trường.
Xa: xa quê hương, xa lộ, xa hoa, xa cách,
xa giá, xa lạ, xa lánh, xa rời, xa tắp, xa vời vợi, xa xa, xa xăm, xa xỉ phẩm,
xa xưa...
Sà: bay sà xuống, sà vào...
Xà: xà nhà, xà niểng, khẩu Phật tâm xà (rắn),
xà beng, xà ích...
Sả : sả tử (khờ khạo), sươảng sả...
Xả: xả hơi, lăn xả, nhảy xả, xán xả, xả
đồ giặt, mưa xối xả, xong xả, xả kỹ (bố thí), xả mạng, hỉ xả, xả đoản thủ trường...
Xă: xă luận, xă thuyết, xă giao, xă tắc,
xă trưởng, thôn xă, hợp tác xă...
Sách: đọc sách, sách nhiễu, sách lược...
Xách: xách giỏ, đầy một xách, ăn nói xách
mé...
3/ CH và TR:
Cha: tiếng kêu khi bị đau (cha ơi!),
người cha...
Tra: (tiếng Nôm): lắp vào (tra cán dao),
tên một loài cá....
Tra: (gốc tiếng Hán): khảo xét (tra cứu,
tra khảo, tra vấn), chặt, chém, nắm lấy, v.v...
Chát: rượu chát, tiếng kêu chát chúa...
Trát: (tiếng Nôm): phết vào (trát bùn,
trát vách)
Trát: (gốc tiếng Hán): tờ công văn (trát
ṭa)
4/ HOA, OA, QUA:
Hoa: bông hoa, hoa mắt, có hoa tay, tóc
hoa râm, quỳnh hoa...
Oa: khóc oa oa, con gái đẹp; tục gọi trẻ
con là oa oa...
Qua: (tiếng Nôm): tiếng xưng hô với nhau,
qua cầu, qua bữa, qua quưt, tai qua nạn khỏị...
Qua: (gốc tiếng Hán): phiên âm Qua Bích
(Gobi), dưa qua, can qua...
Ḥa: (tiếng Nôm): ḥa vốn, xử ḥa, ḥa
thuôăc...
Ḥa: (gốc tiếng Hán): lúa: ḥa cốc, ḥa
b́nh, ḥa lạc, điều ḥa các vị thuốăc cho vưà...
̉a:
khóc ̣a..
5/ I và Y:
Ỉ: i ỉ, bụng âm ỉ, trời âm ỉ, năn nỉ ỉ ôi...
Ĩ: ầm ĩ, ̣n ĩ
Ỷ: (tiếng Nôm): ỷ giàu, ỷ thế, mặt lợn
ỷ...
Ỷ: (gốc tiếng Hán): dựa vào: ỷ lại, ỷ
quyền, kéo lại đằng sau (thế ỷ giốc), tấm b́nh phong, đoản ỷ, ỷ diệm, ỷ mị...
Ích: hữu ích, công ích, cây thươăc ích
mẫu...
Ít: ít ỏi, chút ít...
Im: im bặt, lặng im...
Yêm: (gốc tiếng Hán): trùm cả (yêm hữu),
ngâm lâu trong nước sâu (yêm bác), yêu thương (yêm ái), che dấu (yêm ẩn), ngâm
ướp (yêm ngư), thiến thành hoạn quan (yêm nhân).
Ỉm: im ỉm Yểm: (gốc tiếng Hán): d́m ém đi
(yểm binh), lấp đất, ếm (yểm bùa).
***
Viết “i” hay “y”
đă được bàn luận rất lâu, nổi bật là nhà văn Nguyễn Ngu Í. Tuy không hẳn đồng ư
với các đề nghị nêu ra trong bài “Vẫn chuyện i
ngắn y dài” của giáo sư Nguyễn Đ́nh Ḥa nhưng tôi xin trích dẫn một đoạn
nguyên văn như sau:
“Thiên hạ quen viết lư trưởng, lư
tưởng, lư trí, kỳ dị, nước Mỹ, mỹ vị, mỹ thuật, v.v... mất rồi. Thậm chí, có nhà
văn c̣n dùng lối viết quá táo bạo: thi sỹ, họa sỹ, v.v... Lư do là người ta đă
lẫn lộn con chữ "i”, dùng để ghi nguyên âm, /i/ —là âm hạt nhân hay âm chính của
một âm tiết trong tiếng Việt với con chữ "y” dùng để ghi bán nguyên âm, /y/ là
âm lướt xuất hiện ở đầu hoặc cuối một âm tiết và được ngành ngữ âm học ghi bằng
kư hiệu [ i ]. Có điều lạ là không ai viết kỳ dỵ, lư trư cả! Thực tế, nay chúng
ta băo nhau theo cách phân biệt nói trên mà viết cho đúng: ông lí trưởng, lí
tưởng, lí trí, ḱ dị, nước Mĩ, mĩ vị, mĩ thuật, v.v... th́ có người sẽ thấy lạ
hoắc, không quen, nên không chấp nhận.”
Ông đề nghị 3 biện pháp sau đây:
(A) Khi một âm tiết có nguyên âm /i/ đứng
ở cuối, th́ ta dần dần cố nhớ ghi nhất loạt bằng con chữ i:
ăn ḿ Hải kí gần hơn Tùng kí, ông lí trưởng Mĩ cảnh,
tiếng nói Hoa ḱ, thế kỉ 21,..
(B) Một biệt lệ là vần “uy” như trong
“duy, huy, khuy, nguy, quy, tuy, thúy, v.v...
th́ vẫn viết như cũ, NHƯNG phải đánh dấu thanh điệu vào nguyên âm chính:
“huư, luỷ, quư, tuư, tuỳ, tuỹ, thuư, thuỹ, nhuy., nguy.,
v.v...
Để phân biệt với “húi, lủi, cúi, túi, đùi, tủi,
thui, thúi, khui, v.v...” Ta cần chấp nhận biệt lệ này v́ c̣n có những
vần phức tạp hơn như “uyên, uyêt” trong “duyên,
huyên náo, khuyên, lưu luyến, quyên, tuyên truyền, thuyền, nhuyễn, nguyên,
Nguyễn, xuyễn, duyệt, tuyết, khuyết, nguyệt, quyết, v.v...
(C) Nếu âm chính là nguyên âm /i/ đứng
một ḿnh hoặc đứng đầu âm tiết, th́ vẫn viết theo thói quen cũ :
ỉ eo, ầm ĩ, im, in, y học, y
khoa, ư kiến, ư nghĩa, Nguyễn Ngu Ư, v.v...
Ngoài các vấn đề trên, chúng ta nên lưu ư đến dấu hỏi và ngă. Giáo sư Lê Ngọc
Trụ đă đề nghị phương pháp “Tầm nguyên”: t́m
về cái gốc chữ mà giải quyết các vấn đề trong tự ngữ Việt Nam. Có thể nói đây là
vị giáo sư đă suốt đời trút hết tâm huyết để xây dựng tiếng Việt và đă đưa ra
nhiều đề nghị hợp lư, đúng đắn, trong đó có luật hỏi, ngă. Trong phạm vi dấu hỏi
ngă, tầm nguyên có nghĩa là xác định chữ đó là tiếng Việt thuần túy (Nôm) hay
tiếng Hán Việt, rồi từ đó mà kết luận về chữ được khảo cứu nên viết dấu hỏi hay
ngă.
Phương pháp “Tầm nguyên” của giáo sư Lê
Ngọc Trụ rất có lư, hoàn chỉnh nhưng đi thật sâu vào chi tiết như vậy có thể là
điều không thực tế đối với thế hệ hiện nay và về sau bởi v́ rất ít người Việt
Nam học tiếng Hán vào thời buổi Internet này! Thêm vào đó là có khá nhiều bất
đồng giữa các tự vị, nhiều ngoại lệ về dấu hỏi, ngă quá, gây trở ngại cho việc
dạy và học tiếng Việt.
Suy nghĩ về cái thực tế này, tôi mạnh dạn đề nghị áp dụng luật “Bổng,
Trầm” một cách tuyệt đối để thống nhất cách viết dấu hỏi, ngă. Cứ căn cứ
vào thanh âm mà quyết định:
-thanh bổng như ngang, sắc và hỏi th́ đánh
dấu hỏi
-thanh trầm như huyền, nặng, ngă th́ đánh
dấu ngă.
Thí dụ:
Thanh ngang:
thong thả, vui vẻ, lẻ loi, nghỉ ngơi.
Thanh sắc:
kém cỏi, hối hả, ngả ngớn, dở dói.
Thanh hỏi:
lỏng lẻo, thỉnh thoảng, thỏ thẻ, lửng thửng.
Thanh huyền:
rầu rĩ, mưa tầm tă, sẵn sàng, kỹ càng.
Thanh nặng:
cặn kẽ, vội vă, căi cọ, dữ dội.
Thanh ngă:
lỗ lă, lă chă, măi măi, đi lẫm đẫm.
Kết luận:
Cấu trúc tiếng Việt là một tổng hợp của nhiều tiếng nói của khá nhiều giống dân.
Do hoàn cảnh chiến tranh liên tục nên việc xây dựng và thống nhất tự ngữ chỉ có
tính cách vá víu, lẻ loi của một số cá nhân. Trong bối cảnh đó, học tiếng Việt
có nghĩa là học thuộc ḷng chánh tả và ư nghĩa của chữ, đi kèm với việc tra tự
vị tiếng Việt mỗi khi mơ hồ. .........