Nguyễn
Văn Tường
(1929-1996):
Cha Đẻ Của Nhạc Điện Thanh Việt Nam
|
Trần Quang Hải (Paris, Pháp) |
Nói đến nhạc sĩ Nguyễn Văn
Tường, chắc rất ít người Việt biết đến, ngoại trừ một số nhỏ những người
trong nghề nhạc cận đại. Nói đến nhạc điện thanh (musique electro –
acoustique / electro –acoustical music), người Việt ḿnh lại c̣n mù mờ hơn
nữa. V́ sao ? V́ lẽ không có ai nghe nói tới loại nhạc cận đại này. Người
ḿnh chỉ thích nghe loại tân nhạc dễ nghe của Tây phương (musique de
varietes – pop songs). C̣n khi nghe nhạc cổ điển Tây phương th́ chỉ thích
nghe nhạc của Bach, Mozart, Beethoven, Chopin, và có giỏi lắm là nghe được
nhạc của Debussy, Ravel hay Stravinsky. Tôi chưa dám nói là nghe được nhạc
thâp nhị bán cung (musique dodecaphonique) hay nhạc chuỗi (musique serielle)
của Schonberg, Webern hay nhạc cận đại hơn của Messiaen, Xenakis, Boulez,
v.v…
Nguyễn Văn Tường là ai ? Đă làm ǵ cho nhạc Việt ? Càng đặt nhiều câu hỏi,
th́ càng không có câu trả lời. Đó là lư do chánh thúc đẩy tôi viết bài này
để giới thiệu cùng độc giả Việt một tài năng âm nhạc Việt Nam đă đóng góp
một cách âm thầm một số nhạc phẩm quan trọng về nhạc đương đại quốc tế và
nhất là về nhạc điện thanh, một bộ môn âm nhạc hoàn toàn mới lạ đối với toàn
thể dân tộc Việt. Anh cũng lặng lẽ ra đi vĩnh viễn vào năm 1996 tại Pháp sau
nhiều năm chống chọi với bịnh ung thư gan.
NGUYỄN VĂN TƯỜNG LÀ AI ?
Nguyễn Văn Tường sinh ngày 9 tháng 11, 1929 tại Saigon, là con trai thứ tư
trong một gia đ́nh năm con. Hồi nhỏ, cả nhà không có ai là nhạc sĩ cả. Vào
khoảng 1940-45, trong nhà có ngưới anh cả biết đàn mandoline (măng cầm) nên
anh Tường học lóm cây đàn này, biết đàn mà không biết đọc một nốt nhạc. Chỉ
nghe bằng lỗ tai, rồi đàn những bài hát do Tino Rossi hát , hay các bản nhạc
Việt nghe trong chiền khu.
Năm 1947, mẹ anh Tường từ trần, gây một vết thương tinh thần khá sâu đậm
trong tim Anh. Anh cho là mất mẹ là mất tất cả. Nên anh quyết định ra đi lưu
lạc giang hồ đó đây trong xứ. Trong thời gian này, anh tự học đàn lục huyền
cầm (guitare espagnole / Spanish guitar) và hạ uy cầm (guitare hawaienne /
Hawaiian guitar) với những người bạn của anh như Đan Phú, Nguyễn Ngọc. Đến
năm 1949, anh quyết định sang Pháp, và nhờ người anh cả tài trợ cho một năm
đầu. Ngày 24 tháng 2, 1949, anh lên tàu Marechal Joffre để đi sang Phàp. Tới
Marseille ngày 18 tháng 3, 1949. Khi tới Pháp , công việc đầu tiên là ghi
tên học về điện tử ở trường Radio-electricite. Đến cuói năm 1950, người anh
cả viết thư sang gọi anh về v́ không đủ tiền để nuôi anh tiếp tục ăn học ở
Pháp. Lúc đó , anh quyết chí tạo cho ḿnh một tương lai nên từ chối không
trở về Việt Nam. Hết tiền đi học, nên anh quay ra kiếm việc làm để tữ nuôi
thân. Lúc đó anh mới có 21 tuổi. Cái may mắn đầu tiên trong cuộc đời của anh
là lúc đó có một ông già chuyên môn làm những màn giúp vui trong các rạp hát
bóng. Nên nhớ lúc đó, trong các rạp hát thường hay có phụ diễn tân nhạc hay
làm những màn ảo thuật giữa phim thời sự và tuồng hát chánh. Anh đàn guitare
espagnole (tây ban cầm) để đệm cho ông già đó đàn hạ uy cầm. Tiền thù lao
lúc đó là 1.000 quan cũ (khoảng 1,50 Euro). Vật giá lúc đó c̣n rẻ lắm. Với
số tiền 5.000 quan cũ (khoảng 7,50 Euros), anh có thể sống trong một tháng.
Anh bỏ học điện và bắt đầu đi học solfege (kư âm pháp ) ở Conservatoire
National de la Musique de Paris (Trường Quốc gia âm nhạc Paris) với bà
Marcelle Soulage từ năm 1951 tới năm 1954. Rồi anh học ḥa âm (harmonie) với
ông Georges Dandelot, học Fu-ga (fugue) với bà Simone Caussade và sáng tác
(composition ) với nhạc sư Darius Milhaud từ năm 1954 tới 1961.
Luật học nhạc ở Pháp là tuổi giới hạn để vào lớp composition (soạn nhạc,
sáng tác) là 26-27 tuổi. Muốn vô trường quốc gia âm nhạc Paris thường rất
khó, phải biết nhạc giỏi rồi mới thi vào. Chính ông Darius Milhaud thường
nói rằng phải viết nhạc hàng tấn mới hy vọng đậu vào trường và nhứt là được
nhận vào lớp của ông. Bài nhạc đầu tiên của anh viết theo nhạc ngữ Tây
phương cổ điển là bài « Les 4 Saisons » (Bốn mùa) dựa trên bài thơ của một
thi sĩ Trung hoa , ông Yao Shin Hsien được bà Patricia Guillermez dịch ra
tiếng Pháp. Lúc này anh Tường chịu ảnh hưởng nhạc Nhật nên âm hưởng của
thang nhạc Nhật toản khắp bản nhạc. Rồi anh thi đậu vào trường và học với
ông Darius Milhaud (một nhạc sĩ trong nhóm 6 –Groupe des Six)
Từ năm 1950 tới năm 1956, để sinh sống, anh đàn guitare espagnole và hạ uy
cầm trong các ban nhạc Pháp. Trong thời gian này anh có sáng tác một bản
nhạc được nhà xuất bản Sallebert in ra. Đó là bài « Les Arbres » , lời của
Claire Du Tranoy. Bài này không được nổi tiếng nên bị ch́m trong quên lăng.
Năm 1957 là năm quan trọng trong đời của anh Tường. Đó là năm anh cho ra một
dĩa hát 45 ṿng với 4 bản nhạc nổi tiếng thời đó và hoàn toàn do anh soạn
ḥa âm. Đó là dĩa « Je te promets » do Van Tuong and His South Sea Rhythms
do hăng dĩa Cubannacan số DC 60.202 phát hành ở Pháp. Trong dĩa này anh
Tường sử dụng cây hạ uy cầm. Năm 1957, cùng là năm anh thành lập gia đ́nh ở
Pháp, và lại là nám Anh bắt đầu xin vào làm việc ở đài phát thanh của Pháp (ORTF)
(Office de la Radiodiffusion et Television francaise). Từ đó anh làm việc
cho tới ngày hưu trí vào năm 1989.
Giai đoạn 1957-61 là giai đoạn khó khăn nhất trong cuộc đời của anh v́ anh
phải đ làm một ngày 8 tiếng , tối lại phải đi học nhạc ở trường quốc gia âm
nhạc. Tuy thế anh là người Việt đầu tiên đă được nhiều bằng cấp về âm nhạc
cho tới ngày hôm nay.
Tổng cộng bằng cấp về âm nhạc của nhạc sĩ Nguyễn văn Tường gồm có :
Licence d’harmonie avec mention tres bien (chứng chỉ ḥa âm , hạng ưu) của Ecole Normale de la Musique (Paris) năm 1955.
Premier Prix về Fugue của Trường quốc gia âm nhạc Paris vào năm 1959
Premier Prix về Contrepoint (Đối Điểm) của trường quốc gia âm nhạc Paris vào năm 1960.
2èeme accessit về composition (sáng tác) của trường quốc gia âm nhạc Paris vào năm 1960
Trong suốt thời gian học nhạc anh đă sáng tác một số bài bản đáng kể như :
Sonate pour violon et piano (1958)
Mouvement pour double orchestre a cordes (1959) (điệu cho 2 dàn nhạc dây)
Quatre pieces pour trio d’anches (1960) (4 bài cho ba cây kèn)
Danse du Dragon (1961) Long vũ bài soạn nhạc để thi ra trựng với 170 trang viết cho 10 nhạc khí.
Năm 1960 anh được đỗi qua
làm việc trong ban nghiên cứu âm nhạc của ông Pierre Schaeffer, người cha
của nhạc điện tử Pháp. Nơi đây anh bắt đầu học hỏi thêm về nhạc điện tử và
đă cộng tác với Groupe des Neuf (nhóm 9 nhạc sĩ ) chuyên về nhạc điện tử để
soạn một bản nhạc điện tử đầu tiên của Việt Nam vào năm 1962. Đó là bài « L’eventail » (Cây quạt) đă được tŕnh bày tại Paris vào ngày 11 tháng 5,
1962.
Từ năm 1963 tới năm 1971, v́ măi lo làm việc trong ban nghiên cứu của ông
Pierre Schaeffer, anh Tường không c̣n th́ giờ để sáng tác. Cho tới một hôm ,
có một người bạn Pháp, ông Andre Gerard là nhạc trưởng đă nói với anh : «
Tường, comment ca se fait que tu n’as rien ecrit pour la musique ? Tu as
fait le Conservatoire. Et c’est un crime de ne pas composer. Tu dois ecrire
quelque chose pour la musique » (Tường, tại sao anh không viết ǵ hết cho âm
nhạc ? Anh đă học ở trường quốc gia âm nhạc. Và đó là một án mạng nếu không
sáng tác. Anh phải viết một cái ǵ cho âm nhạc chứ ). Thật sự là trong
khoảng thời gian 8 năm qua, tuy anh không có sáng tác ǵ hết, nhưng anh đă
có dịp nghe và gặp gỡ các nhạc sĩ á châu rất thường xuyên. Anh đă thu thanh
cho những chương tŕnh nghiên cứu nhạc cổ truyền Á châu như là nhạc Ấn độ
với Chatur Lal, Ram Narayan, với hai ông Dagar chuyên về hát Dhrupad của Ấn
độ (1963), với hát Nô của Nhật (1964), với múa rối của Rajasthan, Ấn độ
(1965), và thường trao đỗi kiến thức âm nhạc với GS Trần Văn Khê về các
thang âm của nhạc Việt, về điệu thức, chuyển hệ. Anh lần lần thấm nhuần các
điệu hát hó của nhạc cổ truyền Việt Nam.
Sau câu nói của người bạn Pháp, anh Tường đă suy nghĩ nhiều về vai tṛ của
người sáng tác âm nhạc. Đă được đi học nhạc, đă có diễm phúc hơn nhiều người
Việt khác là được học với nhạc sư Marius Milhaud, th́ không có lư do ǵ mà
để ru ngủ nguồn sáng tác nhạc trong tiềm thức của ḿnh. Anh bắt đầu viết
ngay một tấu khúc tựa là « OCCIDENT-ORIENT » (Âu – Á) cho cây đàn ondes
Martenot, piano, và nhạc gơ (percussions) vào năm 1971.
Sự thành công của tấu khúc « OCCIDENT – ORIENT » tại Paris đă tạo sự chú ư
của bộ Văn Hóa Pháp. Năm 1972 , anh được bộ Văn hóa Pháp nhờ anh viết một
bài để tŕnh diễn nhân dịp La Biennale de Paris. Bài đó tên là «Cộng tồn »
(Co-existence) cho 24 cây đàn (violons, altos, violoncelles, contrebasses,
percussions vả ondes martenot). Tôi đă có dịp đi nghe bản nhạc này tŕnh
diễn lần đầu tiên tại La Cartoucherie,ở thành phố Vincennes , ngoai ô Paris
vào năm 1972.
Đây là lần đầu tiên anh Tường gột bỏ ảnh hưởng Nhật và đă thả hồn ḿnh vào
thế giới nhạc Việt. Bài nhạc bắt đầu bằng ondes Martenot độc tấu với một làn
điệu theo điệu Quảng rất là « Tàu ». Làn điệu Tàu chỉ là một Leitmotiv cho
bản nhạc này được viết bằng một nhạc ngữ mới nhưng nghe không chướng tai như
đa số những bài nhạc đương đại vào thời đó. Anh Tường như t́m được nguồn
hứng , và một thích thú trong sáng tác.
Anh cũng đă sáng tác nhạc cho phim, hay viết những effets speciaux cho những
phim về nghiên cứu nhưng chỉ là những đoạn nhạc ngắn mà thôi.
Năm sau, 1973, nhóm nghiên cứu nhạc (Groupe de recherche Musicale) của đài
phát thanh Pháp đă nhờ anh viết một bài nhạc điện thanh dài độ 15 phút mà
thôi. Lúc này anh Tường đă quen với tôi nhiều (10 năm trao đổi về âm nhạc mà
chưa có dịp cộng tác từ năm 1963). Anh gặp tôi một hôm và đề nghị với tôi để
viết một bài « sur mesure » (đúng ni tấc) cho tôi v́ anh nghĩ chỉ có tôi mới
có đủ tài năng đóng vai tṛ độc tấu cho nhạc khúc của anh. Bài này anh đặt
tên là « Về nguồn » (Retour aux Sources) cho băng nhựa, đàn môi, đàn tranh,
hát đồng song thanh, và muỗng. Khởi đầu từ năm 1973, anh Tường và tôi mỗi
tuần gặp nhau một lần làm việc liên tục 10 tiếng đồng hồ trong pḥng thu mà
đài phát thanh cho mượn để t́m ư và thâu những âm thanh của từng cây đàn vào
băng nhựa. Từ đó mới chế biến qua hệ thống điện tử để làm mất h́nh dạng âm
thanh của mỗi tiếng đàn. Thế rồi một năm qua, vẫn chưa xong, phải đợi tới
cuối năm 1974 mới thành h́nh. Tổng cộng gần 2 năm làm việc. Gần 1.000 giờ
trong pḥng thu. Bản nhạc thay v́ dài 15 phút như đă ấn định trở thành dài
70 phút. Hai anh em làm việc, bàn căi, thảo luận hàng giờ để t́m một ư nhạc.
Đây là một bản nhạc điện thanh Á châu nói chung và Việt Nam nói riêng, rất
quan trọng v́ là lần đầu tiên vận dụng kỹ thuật tân kỳ về hiểu biết nhạc
điện tử Âu châu để trở về nguồn (Á châu).
Nhạc phẩm điện thanh đầu
tiên của Việt Nam được viết cho một máy thu thanh 4 đường (pistes/ tracks)
phát thanh ra 8 ống loa (haut parleurs / loud speakers) 100 watts mỗi ống
loa, thêm vào đó 3 máy vi âm (microphones) cho tôi độc diễn cùng lúc trên
sân khấu trên 3 hướng khác nhau. Đồng thời với cả một dàn máy chiếu h́nh (diapositives
/slides) chụp những phẩm chất hóa học đủ màu để tạo những màu sắc kỳ lạ trên
sân khấu. Một phối hợp thính thị (audio-visuel) và một nghiên cứ không gian
(recherche spatiale /space research). Phải nhớ đây là vào cuối năm 1974. Lúc
đó chưa có ai nghĩ đến việc này. Trước cả Xenakis, và những nhà soạn nhạc
cận đại Tây phương.
Buổi ra mắt đầu tiên của bản này được tổ chức tại Champigny, ngoại ô Paris,
do nhóm 2è2M của nhạc sĩ Paul Mefano tổ chức vào ngày 1 tháng 2, 1975. Trong
pḥng diễn đầy cả người ngồi dưới đất. Anh Tường và tôi cùng những bạn lo về
ánh sáng, dàn cảnh hồi hộp, không biết phản ứng của người nghe ra sao. Bài
th́ dài quá, 70 phút diễn không ngừng. Phải thuộc bài. Vừa nghe nhạc đă thu
sẵn trong băng, phải đối thoại với nó và tùy hứng sáng tác tại chỗ với những
nhạc khí như đàn môi, đàn tranh, muỗng, và hát đồng song thanh. Tôi sợ làm
không nỗi mặc dù đă tổng dượt hai lần. Sau khi hát xong nốt nhạc chót phải
kéo dài 20 giây, tôi muốn xỉu trên sân khấu v́ quá mệt. Những tràn pháo tay
vang dậy khắp hội trường. Cả mọi người đứng dậy vỗ tay hàng 10 phút vừa khen
tôi , vừa khen anh Tường. Thật là ngoài sức tưởng tượng của hai anh em. Một
vinh dự cho nhạc Việt Nam. Một vinh hạnh cho người sáng tác và người tŕnh
diễn. Chúng tôi vô cùng cảm động và sung sướng Chúng tói đă ôm nhau, mắt rơi
lệ, nghĩ rằng ḿnh đă đi đúng đường phụng sự cho âm nhạc Việt. Hơn nữa,
chúng tôi vừa vạch một lối đi cho nền nhạc Việt với một ngôn ngữ âm nhạc phù
hợp với thế hệ điện tử của bán thế kỷ thứ 20.
Hai tháng sau, chúng tôi đuợc mời diễn tại Musée Guimet, Paris quận 16 do cô
Nicole Lachartre, hội trưởng của nhóm ACIC (Association des Compositeurs et
Interprètes contemporains / Hội những nhà soạn nhạc và tŕnh diễn đương đại).
Lần này có ông Pierre Schaeffer, tất cả các nhà nghiên cứu dân tộc nhạc học,
các nhà soạn nhạc Pháp về nhạc cận đại đến nghe. Trên 400 người trong một
pḥng chỉ chứa có 350 chỗ. Sự thành công ngoài sức chờ đợi của hai anh em
chúng tôi. Rồi bài này được tŕnh diễn lần thứ ba cùng trong một năm tại nhà
Văn hóa (Maison de la culture) ở Vichy vào ngày 6 tháng 9, 1975 nhân dịp một
hội nghị về múa quốc tế (Congrès de la danse internationale). Trong lịch sử
âm nhạc điện thanh, chưa bao giờ có một bài nhạc được tŕnh diễn ba lần
trong một năm. Đó là chuyện hi hữu. Và đó cũng là niềm hănh diện của hai an
hem chúng tôi.
Cũng theo chiều hường này, anh Nguyễn Văn Tường đă sáng tác năm 1977 một bản
nhạc tựa là «
Synthèse 1 » (Tổng hỡp 1) cho cây kèn saxo và băng nhựa. Anh
Tường đă lấy đề tài nhạc Nô của Nhật rồi nhờ một anh nhạc sĩ Nhật thổi saxo
tên là Ryo Noda tùy hứng thổi theo. Bài này được tŕnh bày tại Musée Guimet
lần đầu ở Paris. Sau đó đước tŕnh diễn ở Tokyo và Londres (Anh quốc)
Năm 1979, anh Tường sáng tác thêm một nhạc phẩm khác lấy tựa là « Synthèse 2
» cho 4 cây đàn : ondes martenot, piano, percussions, và saxo cùng với băng
nhựa. Bài này được trính bày ở Musée Guimet Paris. Tại Festival de Musique
Vivante (Đại hội âm nhạc sống) ở Clichy, ngoại ô Paris, có một đêm dành cho
những nhạc phẩm của Nguyễn văn Tường. Tôi có dịp đi nghe buổi đó, và được
dịp sống những giây phút cảm động qua những bài nhạc cận đại của anh Tường.
Từ năm 1980 trở đi, anh Tường không c̣n sáng tác nữa. Tôi vẫn đến gặp anh
luôn. Có một hôm tôi đặt vấn đề với anh về vai tṛ sáng tác nhạc của anh.
Anh đâm ra bi quan, thối chí, không c̣n tha thiết ǵ với nhạc. Anh cho rằng
ngày hôm nay anh sống ở Pháp, anh không được gần dân tộc của anh giống như
cá thiếu nước, không thể lội được, không thể sống được. Anh t́m lối thoát
bằng cách nghĩ rằng ḿnh đă là công chức, lương bổng khá cao, không cần viết
nhạc vẫn sống được. Từ đó sanh ra chểnh mảng trong công việc sáng tác. Anh
nói với tôi rằng người nấu cháo ngon mà không có khách hàng để ăn th́ nấu
làm chi. Nếu một mai kia, anh có mất đi trước khi dân tộc cần đến anh th́
anh chỉ là người lỡ thời, không được sanh đúng lúc. Anh buồn v́ học nhạc mà
không phụng sự âm nhạc như anh mong mỏi.
Sự bi quan của anh làm tôi phẫn uất. Tôi cho rằng khi dân Việt Nam chưa đủ
tŕnh độ hiểu biết nhạc cận đại, th́ người viết nhạc vẫn phải tiếp tục sáng
tác , không có lư do và cũng không có quyền ngưng sáng tác. Người sáng tác
không thể ở trong tháp ngà của ḿnh v́ như thế là tự chôn vùi cuộc đời của
ḿnh trong quên lăng. Muốn giáo dục quần chúng về âm nhạc, dù rằng hôm nay
dân Việt chưa hiểu nhạc của ḿnh, có thể 20 năm, 50 năm, hay 100 năm sau dân
tộc Việt sẽ hiểu nhạc của ḿnh. Ḿnh phải chứng tỏ cho dân tộc ḿnh bằng
những sáng tác được thế giới chú ư, tạo một thế đứng trong vườn nhạc quốc tế.
V́ mính có nổi danh trên thề giới, dân ḿnh mới bắt đầu chú ư tới mính. Ngày
xưa Van Gogh, hay Paul Gauguin thuộc phái hội họa ấn tượng (impressionnisme)
phải sống trong nghèo đói v́ nghệ thuật của hai ông này chưa được ai hiểu.
Đến chừng họ chết đi, thế giới mới khám phá tài năng của họ.
Phải đợi tới năm 1984 tôi mới thuyết phục được anh Tường làm lại bài « Về
Nguồn » với những kỹ thuật nhạc khí mà tôi phát triển nhiều hơn. Hai anh em
làm việc với nhau trong một tháng. Và đứa con tinh thần đă được khoát lên
một bộ áo mới, xinh đẹp hơn, mặn mà hơn. Từ năm 1984 tới 1986, hơn hai năm,
tôi đă dần dần khuyên anh Tường hăy trở về với nhạc và nên sáng tác trở lại.
Sáng tác cho anh trước, rồi hăy nghĩ cho dân tộc Việt, hay cho nhân loại sau.
Sáng tác là cả một sự tập luyện trường kỳ. Có ư nhạc là một chuyện, nhưng
phải ghi ư nhạc đó trên giấy để lưu lại một vết tích. Dù có cất trong hộc tủ,
nhưng phải viết. Năm 1989 anh Tường hứa với tôi sẽ sáng tác trở lại. Anh mua
đàn synthe, máy vi tinh, vv… nhưng bịnh ung thư gan bộc phát khiến anh phải
vào nằm nhà thương, bị mổ mấy lần , khiến anh không c̣n hơi sức để sáng tác.
Căn bịnh kéo dài mấy năm trời. Năm 1996 vào mùa xuân, anh nhắm mắt ĺa đời,
mang đi theo giấc mộng c̣n dang dở: giấc mộng được trở về quê hương và được
giới thiệu nhạc của ḿnh đến dân tộc Việt Nam. Anh không thực hiện được
nhưng tôi sẽ làm cho giấc mơ của anh thành h́nh nếu hoàn cảnh cho phép tôi
thực hiện điều đó trong tương lai.
|