LÊ THƯƠNG  
     
 

    Mang T́nh Cổ Tích Dệt Ngàn Cung Thương

  Vương Trùng Dương

              "Lê Thương là một trong những đỉnh cao nhất của dẫy Trường Sơn âm nhạc Việt Nam..." ca sĩ Duy Trác bày tỏ sự ngưỡng mộ với người nhạc sĩ được quen biết sau bốn thập niên. Và dọc theo dẫy Trường Sơn đó, thiên nhiên đă tạo dựng ra nhiều h́nh ảnh, theo tương truyền, được dệt thành hoa gấm về chân dung người đàn bà thủy chung, cao quư, dâng trọn trái tim với người chồng xa cách để biến thành thiên thu từ dân gian được đưa vào văn học: Ḥn Vọng Phu. Dựa vào sự tích đó, nhạc sĩ Lê Thương đưa vào âm nhạc với 3 ca khúc như bức tranh hoành tráng, nguy nga bằng “truyện ca” Ḥn Vọng Phu đă đi vào trái tim mọi người, yêu thích và cảm phục.

                Về h́nh ảnh “Ḥn Vọng Phu”, ở Trung Hoa đă có tự ngàn xưa, trong tác phẩm “Ḥn Vọng Phu”, nữ sĩ Quỳnh Dao đă ghi lại ở chương đầu của sự tích: “Ở phía Bắc Trung Hoa, giữa những rặng đồi núi chập chùng, ẩn hiện rơ nét h́nh thù người mẹ bồng con mà dân giả bao nhiêu năm qua đều ngậm ngùi thương nhớ đến câu chuyện thật cảm động... có một thiếu nữ xinh đẹp vừa lấy chồng chưa tṛn một năm th́ người chồng phải xa ĺa vợ trẻ lên đường chinh chiến. Bao nhiêu năm đợi chờ mùa lá rụng ôm con mong ngóng tin chồng về. Nàng không quản ngại gió mưa sương tuyết phủ phàng... cho đến một ngày kia mẹ con người chinh phụ không c̣n chịu đựng nữa đă thoát hồn vào cơi hư vô. Trời cao đă chứng giám tấm ḷng trung trinh của nàng. Thân xác mẹ con nàng đă hóa thành tượng đá và đă đi vào lịch sử, đi vào ḷng kính ngưỡng của thế gian.  Và từ đó, h́nh ảnh mẹ con nàng trở thành núi Vọng Phu...”. Ngọn núi Vọng Phu nh́n ra ngoài biển, dưới chân núi là vùng hoang giả, rừng cây um tùm tăm tối đầy hang động. Khu rừng đó gọi là Đoăn Tùng Cương, băng qua nữa là Sơn Phong và Sơn Cốc.

                Việt Nam có nhiều h́nh ảnh mẹ bồng con nằm rải rác từ Lạng Sơn vào tận Hà Tiên, mang sự tích người vợ ôm con, trong chồng hóa đá được đặt tên ḥn Vọng Phu.  Ở Lạng Sơn, truyện kể nàng Tô Thị đứng trông chồng là Đậu Tháo đi chiến đấu chống quân xâm lược phương Bắc, đợi chồng hóa đá, h́nh tượng đó tại Đồng Đăng, được đi vào ca dao:

                                                Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa

                                                Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh

                                                Ai lên xứ Lạng cùng anh

                                                Măi mê quên hết lời em dặn ḍ.

                Gần Thanh Hóa, trên núi Nhồi, nổi bật h́nh ảnh ḥn đá lớn như chân dung người đàn bà đứng bế con. Vẫn theo tương truyền ngày xưa, người chồng theo tiếng gọi núi sông, chinh chiến kéo dài, người đàn bà ṃn mỏi chờ mong, ôm con đứng trông chồng đến khi hóa thành đá.

                Ở Khánh Dương, Khánh Ḥa có ḥn Vọng Phu, c̣n gọi là ḥn Mẫu Tử. Theo Nguyễn Tử Quang trong tác phẩm Điển Hay Tích Lạ “Chóp núi Vọng Phu là một khối đá hoa cương khổng lồ, đứng thẳng lên trời, bên cạnh lại có một khối đá khác nhỏ hơn, hai khối đá nầy tương tự h́nh người”.

                Cách Khánh Dương về hướng Bắc chạy dọc theo quốc lộ I không bao xa, núi Đá Bia nằm trên Đào Cả thuộc Phú Yên, sừng sửng khối đá lớn trông như tạc h́nh ảnh mẹ bồng con đứng nh́n ra biển, c̣n gọi là núi Mẹ Bồng Con.

                Trong dẫy Núi Bà, thôn Chính Oai, xă Cát Khánh, Phù Cát, B́nh Định, một ḥn đá xanh cao, mọc đứng trên ngọn núi cao nh́n ra Vũng Tô, Vũng Nồm, nh́n từ xa trông giống h́nh người đàn bà dắt con đứng nh́n ra biển, được gọi là đá Vọng Phu, ḥn Vọng Phu.

                Sự tích ḥn Vọng Phu c̣n dựa theo câu truyện dân gian. Trong thời tao loạn, có hai anh em ruột v́ chạy giặc phải ly tán từ thuở nhỏ. Khi chàng trai và cô gái gặp nhau v́ không nhận ra nhau nên thương yêu nhau và kết duyên vợ chồng, sinh hạ được đứa con, ăn ở với nhau rất hạnh phúc. Thế rồi một ngày, người chồng gội đầu cho vợ, thấy có vết sẹo, lần ṃ câu chuyện, người chồng mới vỡ lẽ vết sẹo đó do chính chàng gây ra cho cô em gái từ thuở nhỏ. Người chồng đau khổ, ân hận, không dám nói cho vợ biết, lặng lẽ ra đi. Biệt tăm chàng, người vợ thương nhớ chồng, ôm con lên núi đứng chờ cho đến khi hóa đá.

                Chân dung người đàn bà bế con trông chồng hóa đá được đề cập nhiều qua thi văn, Lê Thương - người nhạc sĩ tài hoa - đă mang h́nh ảnh vợ chồng thời chinh chiến dựng thành “trang sử” hùng tráng và bi thương qua lời ca và tiếng nhạc, trở thành tác phẩm âm nhạc quư báu trong kho tàng âm nhạc Việt Nam. Qua âm nhạc, Ḥn Vọng Phu của Lê Thương cho thấy sự trưởng thành của âm nhạc Việt Nam trong giai đoạn đầu; ở đó thể hiện trọn vẹn câu chuyện nhân gian thành trang sử đầy màu sắc về h́nh ảnh, tâm tư và cả bối cảnh bi hùng, cao đẹp của thời chinh chiến.

                Trong các h́nh ảnh về Ḥn Vọng Phu, bối cảnh Lê Thương tạo dựng trong ca khúc ở địa danh núi Nhồi, giữa vùng Thanh Hóa - Nghệ Tỉnh. Và nếu nh́n lại thời gian xa xưa, từ Cổ Loa thành - địa danh của Vĩnh Yên - nh́n về  Nơi phía Nam giữa núi mờ, ai bế con như đứng chờ th́ chân dung Ḥn Vọng Phu trong ca khúc được tạo dựng nơi đây. Ba ca khúc trong Ḥn Vọng Phu dàn dựng ra qua lời ca, tiếng nhạc theo tiến tŕnh câu chuyện với đầy đủ h́nh tượng trong thời chinh chiến, nam nhi theo tiếng gọi của non sông, nữ nhi trong bổn phận nuôi con, thờ chồng, kẻ đi, người ở đều mang trong ḷng t́nh yêu thương cao quư, trang trải nỗi niềm luyến nhớ, đau thương giữa nghĩa vụ và t́nh yêu, giữa phong ba thời cuộc và t́nh nghĩa vợ chồng. H́nh ảnh đó khơi dậy câu truyện được lưu truyền, nó tàng ẩn cái t́nh, cái nghĩa cái thủy chung, vừa náo nhiệt vừa tĩnh lặng tạo thành bức tranh sống động trong nhiều bối cảnh thời đao binh của lịch sử nước nhà.

                Theo nhạc sĩ Lê Thương, việc sáng tác ba bản Ḥn Vọng Phu xuất phát từ những bước luân lạc kéo dài tại xứ dừa Bến Trẹ những rung cảm êm đềm lẫn ghê rợn, tuyệt vọng đă giúp cho chàng nhạc sĩ giang hồ gốc Thăng Long chắp nối dần các t́nh tiết thành một “truyện ca”. Và từ năm 1945 đến đầu 1948, ba bản Ḥn Vọng Phu lần lượt được tái bản tại Sài G̣n.

                Ḥn Vọng Phu I mở đầu với h́nh ảnh chiến chinh, “là một bức tranh phác họa vài nét tiêu sơ theo điệu quân hành. Thực hiện nó bằng cảm xúc mănh liệt cộng với trí tưởng tượng mông lung, diệu vợị.. Viết HVP-1 lúc đang sống bên bờ kinh đào Chạc Sậy nối liền sông Đại với sông Bến Tre” (Lê Thương). Không khí thời đó giống như h́nh ảnh trong Chinh Phụ Ngâm của Đặng Trần Côn qua bản dịch của Đoàn Thị Điểm. Lê Thương miêu tả h́nh ảnh hùng dũng của chàng trai với tiếng gọi núi sông:

                                Lệnh vua hành quân trống khua dồn

                                Quan với quân lên đường

                                Đoàn ngưa xe cuối cùng

                                Vừa ruổi theo lối sông...”

                Không khí và h́nh ảnh bắt gặp trong Chinh Phụ Ngâm “Thuở trời đất nổi cơn gió bụi” phận nam nhi phải “Xếp bút nghiên theo việc đao cung” để rồi “đi vào nơi gió cát”. Và, người vợ ở nhà mang nỗi nhớ khôn nguôi, nuôi con, ngong ngóng bóng chinh nhân trở về. Ḥn Vọng Phu I đă phác họa tổng quát câu chuyện khi chia ly trở thành ly biệt:

                                “Người không rời nửa kiếp gian nan

                                Người biến thành tượng đá ôm con”!

 

                Ḥn Vọng Phu II (Ai Xuôi Vạn Lư) bày tỏ tâm trạng người vợ, thương chồng, nhớ chồng, chờ chồng bất kể nắng mưa:

                                “Bế con đă hoài công để đứng chờ.

                                Người chồng đi đă bao năm chưa thấy về.

                                Đá ṃn nhưng hồn chưa ṃn giấc mơ...”

 

                Khi nàng đứng chờ th́ than ôi:

                                “Đoàn cỏ cây hăy c̣n trẻ thơ,

                                Cho đến bây giờ đă thành đoàn cổ thụ già”

                Thế nhưng nàng vẫn “Đứng ôm con xem chàng về hay chưa ?”.

Đứng trên ngọn núi chờ chồng, mong ai xuôi vạn lư để nhắn tin nhưng rồi tháng năm vẫn biền biệt trôi, ṃn mỏi đứng vọng về chân trời xa xôi cho đến khi hóa đá.

 

                Ḥn Vọng Phu III (Người Chinh Phu Về), qua mùa chinh chiến, trên đường về chập chùng núi non, mang bao niềm nhớ thương mong giải bầy với người yêu bao năm xa cách... nhưng nh́n về phương Nam, than ôi! giữa núi mờ, nàng biến thành tượng đá ôm con.

                Trong thời kỳ bùng nổ chiến tranh Việt-Pháp, giai đoạn người trai phải tham gia vào cuộc chiến, có người nhạc sĩ trẻ Lê Thương. Và, chính 3 ca khúc đó đă tạo thành được kích thước rộng lớn. V́ theo ông: Lư do khác thôi thúc tôi viết Ḥn Vọng Phu là do cảm mến thân phận người chinh phụ qua Chinh Phụ Ngâm khúc nổi tiếng... Không có ǵ đẹp hơn bằng cách chuyển cuộc ra đi của người chồng v́ mối t́nh ngang trái thành cuộc ra đi v́ đại nghĩa, và h́nh ảnh người đàn bà cũng trở nên hợp hơn, đúng hơn với người chinh phụ! Người đàn bà luôn luôn chịu thiệt tḥi. Cần phải trả lại cho họ cái chức phận thiêng liêng, cao quư ”.

                Theo diễn biến lúc hùng, lúc bi, lúc giục giă lúc lắng đọng, ḍng nhạc và lời ca của Lê Thương lột tả được ư nghĩa sâu lắng, thể hiện được tinh hoa của âm nhạc để đi vào trái tim, niềm rung cảm của mọi người.

                Lê Thương tên thật là Ngô Đ́nh Hộ, sinh ngày 8 tháng 1 năm 1914 tại phố Hàm Long, Hà Nội. Theo học trường Nhân Bắc ở Hà Nội đến năm 1935 hành nghề giáo. Bố mẹ ông là nghệ sĩ chơi nhạc cổ ở Hà Nội v́ vậy khi ở học đường, ông tham gia phong trào ca hát. Sau khi thuyên chuyển về dạy học ở Hải Pḥng, Lê Thương cùng với Văn Cao, Hoàng Quư, Hoàng Phú, Phạm Ngữ Canh Thân... thành lập nhóm sáng tác ca khúc âm nhạc lấy tên Đồng Vọng. Lê Thương là một trong năm nhạc sĩ khai sinh cho nền tân nhạc Việt Nam với nhạc phẩm Tiếng Đàn Âm Thầm (1934) và Trưng Vương (1937), tiếp đó với các ca khúc Bản Đàn Xuân, Một Ngày Xanh, Trên Sông Dương Tử...Nhạc sĩ tiên phong trong thể loại truyện ca như Nàng Hà Tiên (1940) rồi được tiếp nối với Hoa Thủy Tiên, Lịch Sử Loài Người, Truyền Kỳ Lịch Sử...

                Năm 1940, Lê Thương rời Hải Pḥng vào Bến Tre, lên Sài G̣n và tham gia trong ḍng sinh hoạt văn nghệ cùng anh em văn nghệ sĩ. Qua Hồi Kư của Phạm Duy: “Trong số những bạn đồng nghiệp, tôi yêu nhất nhạc sĩ Lê Thương. Anh rời Bến Tre lên Sài G̣n làm nghề thầy giáo. Lê Thương làm thơ, làm nhạc rất bay bướm nhưng anh có cuộc sống rất giản dị... Vào những năm đầu của cuộc chiến Nam Bộ, cũng như hầu hết những người trai của thời đại, Lệ Thương có những đóng góp tich cực vào cuộc đấu tranh chống xâm lăng, giành Tự Do, Độc Lập của toàn thể nhân dân... Th́ ra Lê Thương cũng đi vào kháng chiến để tạo những huyền thoại về người mẹ Việt Nam..". Lê Thương vào thành rất sớm. Vào năm 48, anh soạn bài Ḥa B́nh 48... Vào thời đó, nằm trên trục tuyên truyền của phe tả, chim bồ câu được chọn làm biểu tượng cho ḥa b́nh... nhưng anh Lê Thương của chúng ta cho rằng con chim đó dang bị đau nặng... Bài Ḥa B́nh 48 là loại nhạc châm biếm chính trị (satire politique) do Lê Thương dẫn đầu... Lê Thương c̣n soạn thêm những bài ca châm biếm như Liên Hiệp Quốc, Làng Báo Sài G̣n, Đốt Hay Không Đốt...

                ... Lê Thương cũng là người chuyên soạn nhạc cho thiếu nhi, thiếu niên qua những bài Thằng Cuội, Tuổi Thơ... Bài Bà Tư Bán Hàng và bài Học Sinh Hành Khúc phổ biến đến độ có những câu nhại... Tôi vẫn quan niệm bài hát nào có lời ca nhại là bài hát thành công nhất. Tôi cũng cho rằng trong làng tân nhạc, Lê Thương là người trí thức nhất. Mỗi bài nhạc, mỗi giai đoạn nhạc của anh đều chứa đựng thông điệp”.

                Nh́n lại toàn bộ nhạc phẩm của Lê Thương, bao gồm hầu hết mọi thể điệụ Bên cạnh nhiều nhạc phẩm về thiếu nhi rất quen thuộc, nhạc châm biếm, những bài thơ được phổ thành ca khúc như Bông Hoa Rừng, Tiếng Thùy Dương, Người Chơi Độc Huyền... cùng nhiều ca khúc với t́nh tự quê hương, dân tộc được trải dài suốt nửa thế kỷ là công tŕnh đóng góp thật quư giá. Lê Thương thích tham gia vào kịch nghệ, cuối thập niên 30 với ban kịch Thế Lữ. Khi vào Sài G̣n, tham gia vào ban kịch Sầm Giang của Trần Văn Trạch, sáng tác nhiều bài hát cho kịch phẩm. Vào thập niên 50 ông viết nhạc phim cho hăng Mỹ Vân.

                Là giáo sư dạy về nhạc sử ở Trường Quốc Gia Âm Nhạc & Kịch Nghệ Sài G̣n, ông triển khai nền âm nhạc Tây phương để chuyên chở vào nền âm nhạc Việt Nam để tạo sắc thái đặc biệt. Qua hàng trăm nhạc phẩm đều phản ánh tâm hồn dân tộc, ḍng nhạc b́nh dị, đơn giản; giai điệu nhẹ nhàng không cầu kỳ, rắc rối được thể hiện qua tiết tấu. Trên bục giảng, là một nhà giáo nghiêm nghị nhưng trong giao tiếp, ông là người ḥa nhă, tận t́nh, lịch sự, từ tốn và ḥa nhập với mọi người. V́ vậy, căn nhà của ông trên đường Bùi Viện trở thành thân quen cho giới nghệ sĩ. Lê Thương c̣n là giáo sư Sử Địa, có tài vẽ tay trái, kiến thức rộng và giảng dạy rất lôi cuốn trong bộ môn khô khan.

                Về mặt t́nh cảm, là nghệ sĩ, Lê Thương cũng phong lưu đa t́nh nhưng kín đáo, không ba hoa, khoác lác v́ vậy không bị tai tiếng. Người t́nh đầu tiên sống với ông là cô đầu hát ả đào nổi tiếng ở  Hà Nội, sống với nhau nhưng không thành hôn. Người bạn đời trăm năm với ông, gốc Hưng Yên, ở Pháp về gặp nhau tại Sài G̣n, sống với nhau được 3 người con mới làm giấy hôn thú, tiếp tục hành tŕnh, có tất cả 9 người con. Người bạn đời của nhạc sĩ “là người b́nh dân, mộc mạc, không bao giờ  nhảy sổ vào công việc của chồng, suốt đời lẳng lặng trông nom săn sóc chồng con” (Phạm Duy). Tuy nhiên, mối t́nh của Lê Thương với vũ sư Năm Ngọc ở chợ Vườn Chuối thời Lê Thương làm việc ở Trung tâm Học Liệu, tuy kín đáo nhưng bị lọt vào mắt mấy tay cầm bút.

                Sau tháng 4-75, Lê Thương kẹt lại ở quê nhà, không c̣n cơ hội thuận lợi tham gia trong sinh hoạt nghệ thuật. Bước vào đầu thập niên 90 tinh thần và thể xác suy yếu. Cuộc sống gia đ́nh càng thêm khó khăn, may mắn được sự giúp đỡ của vài nghệ sĩ quư trọng ông. Vào giữa thập niên 90, ông hoàn toàn mất trí. Trong khi hàng triệu người ở quê nhà và hải ngoại đón tết Trung Thu, tác giả Thằng Cuội nhắm mắt ĺa đời ngày 17-9-1996, hưởng thọ 83 tuổi. Lê Thương trở về với cát bụi, theo “Gió không có nhà, gió bay muôn phương, biền biệt chẳng ngừng trên trời nước Nam...”

                Hơn nửa thế kỷ đóng góp cho âm nhạc Việt Nam, Lê Thương sáng tác hàng trăm tác phẩm, nhiều ca khúc khai sinh cho nền âm nhạc Việt Nam tuy đánh dấu cái mốc lớn lao trong lịch sử tân nhạc nhưng thời gian rồi sẽ phôi phai như nhiều ca khúc khác cùng thời của ông. Thế nhưng, ngày nào c̣n nhắc đến h́nh ảnh Ḥn Vọng Phu, ngày đó tên tuổi Lê Thương vẫn c̣n bay lượn giữa muôn ngh́n âm thanh bồng bềnh trong tâm thức.

 

Vương Trùng Dương

 Trở lại đầu