
| Thơ Hoàng Cầm ... | ||
|
Trong nhạc Phạm Duy |
||
|
|
NẾU ANH C̉N TRẺ NHƯ NĂM ẤY
Nếu anh c̣n trẻ như năm ấy
Quyết đón em về sống với anh
Những khoảng chiều buồn phơ phất lại
Anh đàn em hát níu xuân xanh
Nhưng thuyền em buộc sai duyên phận
Anh lụy đời quên bến khói sương
Năm tháng... năm cung mờ cách biệt
Bao giờ em hết nợ Tầm dương?
Nếu có ngày mai anh trở gót
Quay về lăng đăng bến sông xa
Th́ em c̣n đấy hay đâu mất?
Cuối xóm buồn teo một tiếng gà...”
(Nếu Anh C̣n Trẻ/thơ Hoàng Cầm)
Trên đời này có biết bao nhiêu người gặp nhau, hay gặp lại nhau, yêu nhau muộn màng lúc đă... già? Muộn màng! Bài thơ lăng mạn do thi sĩ Hoàng Cầm viết năm 1941, diễn tả nỗi buồn v́ một cuộc t́nh dở dang của người không c̣n... trẻ nữa. Có nhiều chữ, nhiều câu thật tuyệt vời. Lấy vài thí dụ giản dị trong bài, để xem tài làm thơ của Hoàng Cầm:
Mở đầu bài thơ, chữ Nếu cho thấy đây một chuyện mong ước, giả dụ. Đọc tiếp cho hết câu đầu, anh c̣n trẻ như năm ấy, sẽ thấy rơ đó chỉ là một chuyện không thể có thực. Nhưng, chữ Quyết ở đầu câu thứ hai cho thấy dù chỉ là chuyện giả tưởng, ư tưởng người đàn ông vẫn mạnh mẽ, khi có ư đón em về sống. Có một chữ hơi lạ là khoảng của câu thứ ba. Thường người ta sẽ viết là buổi. Nhưng đọc khoảng chiều nghe thấm thía hơn là buổi chiều. Cái cảm giác khi đọc khoảng chiều sẽ là những lúc hoàng hôn về, không được trọn vẹn được thành cả buổi chiều, mà chỉ có những khoảng thời gian của những buổi chiều mà thôi. Kết quả làm cả câu thơ buồn hơn, hay hơn. Chữ níu ở trong níu xuân xanh phải nói là rất hay, cho thấy t́nh trạng gần như là tuyệt vọng của mối t́nh... già, dù đây vẫn chỉ là nói chuyện giả tưởng. Mặc dù chuyện đón người yêu về chỉ là chuyện không có thực, mà t́nh yêu đă mong manh như vậy rồi!
Đoạn cuối của bài thơ, câu đầu cũng bắt đầu bằng Nếu, do đó cũng chỉ là chuyện giả dụ. Tuy vậy, khi đọc tiếp có ngày mai anh trở gót th́ thấy câu chuyện lại có thể xẩy ra trong tương lai và không phải là chuyện không thật như ở đoạn đầu bài thơ. Nhưng, lúc đó người lăng đăng có thể hiểu là người đàn ông đă mất hồn v́ mất... t́nh đi lang thang khắp nơi, rồi t́m về bến sông xa vắng với cái buồn cô đơn.
Câu áp chót của bài thơ là một câu hỏi, em c̣n đấy hay đâu mất? Và, chữ Th́ đặt khéo léo ở đầu câu làm cả câu mạnh hẳn lên với ư nghĩa thậm xưng hơn nhiều. Câu thơ, câu hỏi nhưng có vẻ đă biết câu trả lời rồi, gần như thành một nỗi niềm trách móc, ai oán.
Câu cuối cùng của bài thơ, thật hay, đă làm bật ra được cái cảm giác buồn cô độc của thi sĩ. Hai chữ buồn teo là buồn hoang vắng. Cuối xóm buồn teo một tiếng gà nhấn mạnh đến sự vắng vẻ và buồn.
Hoàng Cầm viết một tiếng gà, một tiếng động chứ không phải tiếng gáy của gà. Chỉ có một tiếng động nhỏ của một con gà, không có tiếng thứ hai. Thi sĩ Hoàng Cầm không viết là một đàn gà, không viết là hai con gà. Đọc câu thơ sẽ có cảm giác chỉ có một con gà mà thôi. Tiếng động nhỏ của một con gà từ cuối xóm c̣n vọng lên nghe thấy được cho thấy xóm buồn vắng vẻ như thế nào. Làm sao để thi sĩ Hoàng Cầm có thể trẻ lại để đón người yêu về chung sống được nhỉ? Làm sao, làm sao mà... trẻ măi? Câu hỏi vẫn ám ảnh con người từ bao năm nay. Chuyện ngày xưa thỉnh thoảng vẫn có những người đi lên núi cao, rừng sâu t́m những gịng suối trường sinh hay t́m cây cỏ để có thể làm thành thuốc cải lăo hoàn đồng. Nhưng mỗi lần đi, lại một lần về, không thấy kết quả ǵ cả và lại có vẻ... già hơn trước nhiều v́ mệt mỏi, cực khổ và thất vọng.
Thật ra làm người bề ngoài nh́n trẻ lại th́ chắc không được trừ khi có nhiều tiền để tiêu cho những cuộc giải phẫu thẩm mỹ như làm căng da mặt cho hết nét nhăn hay bỏ th́ giờ nhuộm tóc bạc thành đen. Đắt nhưng không đắt lắm như vậy, c̣n những phương cách khác như làm mặt (facial) nghe nói cũng giữ mặt người đẹp, trẻ lâu hơn. Ít tiền hơn nữa, cũng có nhiều mỹ phẩm kem bôi mặt với quảng cáo có thể làm da mặt nhẵn đẹp hơn. Hai điều sau này không biết có đúng không, có lẽ chỉ có... mấy bà biết với nhau!
Tuy vậy nếu biết ăn vài thứ thực phẩm rau quả tốt th́ cũng có thể làm bớt... già một chút.
Một cuộc khảo cứu khoa học gần đây do tiến sĩ James Joseph thuộc U.S. Department of Agriculture, Human Nutrition Research on Aging tại Tuffs University ở Boston đă được công bố. Họ cho những con chuột ăn rau spinach hoặc dâu đỏ (strawbewrry) hay dâu xanh (blueberry). Và cùng một lúc họ đo lường, đánh giá các con chuột đă có tuổi khá cao, về các khả năng của chúng như psychomotor skills, mental skills và oxidative stress. Trong quá khứ, đă có những cuộc khảo cứu cho thấy chuột ăn rau spinach hay dâu đỏ có vẻ... trẻ lâu so với những chuột không ăn hai thứ này. Lần này kết quả cho thấy những con chuột được cho ăn dâu xanh có vẻ ít bị già đi nhất. Những con chuột này được cho ăn 18.6 grams dâu xanh một ngày tức là tương đương với một chén nhỏ dâu xanh cho một người mỗi ngày. Những khảo cứu gia cho biết rau spinach, dâu đỏ và nhất là dâu xanh có nhiều chất antioxidants và những chất này đă giúp cơ thể chống được những trạng thái căng thẳng (stress) về thể xác hay tinh thần làm người ta chóng già đi.
Như vậy thi sĩ Hoàng Cầm có thể mỗi ngày ăn một chén nhỏ dâu xanh để được... trẻ lâu hơn. Nhưng coi bộ muốn trẻ lại như năm ấy th́ chắc không được đâu! Đến nay vẫn chưa có thức ăn hay thuốc thang ǵ có thể thực hiện được chuyện này cả.
Về lại với bài thơ của Hoàng Cầm: Măi đến năm 1985, tức là 44 năm sau, nhạc sĩ Phạm Duy mới phổ nhạc bài thơ. Chắc lúc đó, tuổi đă về chiều, Phạm Duy mới cảm được bài thơ? Ông cho biết bài thơ không có tựa đề và đặt tên bài hát là T́nh Cầm. Thật ra, bài thơ có tên Nếu Anh C̣n Trẻ (99 T́nh Khúc - Thơ Hoàng Cầm, trang 175). Có lẽ, đề tựa bài thơ chỉ được đặt về sau này và Phạm Duy đă không hề biết đến. Bài thơ t́nh Nếu Anh C̣n Trẻ đă trở thành bài nhạc T́nh Cầm. Sau khi được phổ nhạc, âm giai chính là Sol Trưởng, lời bài hát trở thành như sau:
Nếu anh c̣n trẻ như năm cũ...
Quyết đón em về sống với anh!
Những khi chiều vàng phơ phất đến...
Anh đàn em hát níu xuân xanh...
Bốn câu khá hay trong đoạn thứ hai của bài hát, không có trong bài thơ, do chính Phạm Duy liều lĩnh phang (chữ của Phạm Duy dùng khi viết về bài hát này) thêm vào:
Có mây bàng bạc gây thương nhớ
Có ánh trăng vàng soi giấc mơ...
Có anh ngồi lại so phím cũ
Mong chờ em hát khúc xuân xưa!!!
Đoạn thứ ba, điệp khúc, lời khác hẳn bài thơ và nhạc chuyển trùng hẳn xuống, buồn hơn v́ đổi qua âm giai Sol Thứ:
Nhưng thuyền em buộc trên sông hận...
Anh chẳng quay về với trúc tơ!
Ngày tháng tỳ bà vương ánh nguyệt
Mộng héo bên song vẫn đợi chờ!
Đoạn kết, nhạc trở về với Sol Trưởng, lại rộng răi hơn nhưng có lời hát với ư tưởng khác đoạn thơ nguyên thủy:
Nếu có ngày nào em quay gót
Lui về thăm lại bến thu xa...
Th́ đôi mái tóc không c̣n xanh nữa...
Mây bạc trăng vàng vẫn thướt tha.”
(T́nh Cầm/thơ Hoàng Cầm, nhạc Phạm Duy)
Có nhạc điệu uyển chuyển, thật hay, bài t́nh ca T́nh Cầm là một trong những bài nhạc được gọi là Hoàng Cầm Ca của Phạm Duy.
Đó là chuyện bài thơ nhạc Nếu Anh C̣n Trẻ-T́nh Cầm.
Để kết thúc, lại nói thêm một chút chuyện già trẻ ở ngoài đời. Thế nào là già? Như thế nào là trẻ? Vấn đề này chỉ tương đối thôi và tùy theo cảm quan của con người mà thôi.
Thật ra có nhiều người trông qua có vẻ trẻ nhưng t́nh cảm, bên trong lại không trẻ chút nào hết và có những người khác, bên ngoài nh́n thấy là già, mà tâm hồn vẫn trẻ trung.
Những “người thơ” có đầu óc, được tâm hồn như Hoàng Cầm có thể nói không có tuổi và vẫn trẻ măi măi...
(Journal of Neuroscience 1999
![]()
LÁ DIÊU BÔNG
Qua cầu bà Sấm, bến cô Mưa
Hoàng Cầm
Những người yêu Thơ Hoàng Cầm đều biết những bài thơ t́nh hay nhất của ông: Lá
Diêu Bông, Qua Vườn Ổi, Cây Tam Cúc, Nếu Anh c̣n trẻ...Nhiều người thắc mắc
không biết ở đồng làng Đ́nh Bảng -- Váy Đ́nh Bảng buông chùng cửa vơng..nên nghĩ
là hai Chị Em buổi chiều đông xưa đó theo nhau đi ở cánh đồng làng Đ́nh Bảng --
có cái lá gọi là lá Diêu Bông thật không, đi t́m lá Diêu Bông để làm ǵ? Trong
đời Thi sĩ có một người chị như ông thường nhắc đến trong thơ thật hay không?
Thi sĩ Hoàng Cầm trả lời người yêu thơ ông những câu hỏi ấy trong bài "Tám Nhịp
Tuần Du", viết năm 1992. Tôi trích một đoạn trong bài ấỵ
Tám Nhịp Tuần Dụ VĂN XUÔI HOÀNG CẦM. Nhà Xuất Bản Văn Học, phát hành Tháng 12
năm 1999. Trích:
...Nói chung hầu hết những bài thơ của tôi được độc giả ưa thích trong nhiều năm,
bao giờ cũng bắt đầu một cách vi diệu là "từ ngoài tôi", vẳng lên đôi ba câu
nghe rất rành rẽ, giọng phụ nữ lảnh lót mà rất xa, như hát mà như đọc. Như một
tia nước trong vắt phun lên từ ruột đất khi chúng ta thăm ḍ mạch nước ngầm để
đào giếng, khi đă có đôi ba câu vẳng lên bên tai, tôi ghi ngay, bắt lấy ngay và
từ đó là t́nh cảm, suy tư cuồn cuộn trong người, tôi thường tiếp được mạch ban
đầu ấy và nối luôn các đợt sóng tuôn trào cho đến khi trong người thấy yên ắng,
nhẹ nhơm là bài thơ cũng hoàn tất. Ví dụ như bài thơ dài Bên Kia Sông Đuống (tôi
đă viết rất tỉ mỉ, thuật lại những trạng thái của tâm tư ḿnh trước lúc bật ra
thợ.) tôi đang ở trong trạng thái bồn chồn, thao thức, tâm tư rối bời sau khi
nghe báo cáo về quê hương ḿnh bị giặc xâm lược kéo lên tàn phá, giết chóc, tôi
chưa định viết ǵ, lúc quá nửa đêm vẳng lặng, bỗng văng vẳng bên tai ba câu:
Em ơi buồn làm
chi
Anh đưa em về sông Đuống
Ngày xưạ..cát trắng phẳng ĺ
Tôi bèn chộp lấy, ghi ngay và cứ thế cảm xúc trào ra một
mạch dài, viết rất nhanh, sợ không theo kịp những âm thanh, làn điệu đang cuồn
cuộn dâng lên trong ḷng ḿnh. Cho đến gần sáng th́ xong bài thơ, một trong
những bài được các bạn già, trẻ, nam , nữ yêu mến đă gần nửa thế kỷ. Những bài
thơ như vậy, thường là không theo một ư nghĩ nào định trước, tác giả giống như
một cậu học tṛ viết chính tả, lúc đầu là có tiếng đọc rành rọt bên tai, sau là
viết theo tiếng đọc âm thầm từ trong tâm can ḿnh, ở những trường hợp ấy tôi
không hề cấu tứ, nghĩ ngợi ǵ về câu, chữ, không theo một luật nào của thi pháp
về thanh điệu, ngữ điệu ǵ ǵ hết. Tôi chỉ tuân theo nhịp rung động của toàn
thân, cả tâm hồn và thể chất, khí chất.
Đặc biệt, riêng, riêng có bài thơ Lá Diêu Bông, duy nhất một bài này là những
lời vẳng bên tai, từ đầu chí cuối, quá nửa đêm mùa rét 1959, trên giường ngủ,
trong ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn ngủ 6 oát, bên cạnh người vợ đang ngủ ngon và
các con những giường bên cũng đang ngủ say, tôi không gây một tiếng động khả dĩ
làm mất giấc ngủ của những người thân. Đêm nào, khi lên giường nằm, tôi cũng để
sẵn một tâïp giấy trắng và cái bút ch́. Nếu ngủ được th́ càng tốt, nhưng thường
về đêm, tôi cứ hay bị thao thức, trằn trọc vô cớ. Chẳng có chuyện ǵ phải lo
nghĩ, chẳng có ư định ǵ trong đầu mà sao về quá nửa đêm một mùa rét ấy tôi vẫn
không ngủ được. Bốn bề yên tĩnh.
Nhà tôi ở vào một phố nhỏ, lại lùi tít vào phía trong, nên tiếng xe cộ thưa thớt
ngoài đường cũng không lọt vào taị Im lặng. Chợt bên tai vẳng lên một giọng nữ
rất nhỏ nhẹ mà rành rọt, đọc chậm răi, có tiết điệu, nghe như thời nào xa xưa
vẳng đến, có lẽ từ tiền kiếp vọng về.
Váy Đ́nh Bảng buông chùng cửa vơng...
Tôi xoay người trong chăn về phía bên trái và ghi ngaỵ Giọng nữ vẫn đọc, không
vội vàng mà cũng không quá chậm, và tôi ghi lia lịa trong bóng tối mờ. Đến lúc
giọng nữ im hẳn, ḷng tôi nhẹ bẫng hẳn, một lát sau tôi ngủ thiếp đi. Sớn hôm
sau nh́n lại th́ có chỗ rơ, đọc được, nhiều chỗ ḍng nọ đè lên ḍng kia, chữ nọ
như xóa mất chữ khác. Phải mất gần nửa tiếng đồng hồ tôi mới tách được ra theo
thứ tự đúng như những lời người nữ ḱ diệu nào đó đă đọc cho tôi viết nửa đêm
hôm quạ Bài Lá Diêu Bông ra đời như vậy, nói có người không tin, nhưng tôi nghĩ
bây giờ khoa tâm thần học, vô thức luận, tâm linh học có thể lí giải được hiện
tượng đó một cách rất khoa học.
Vậy nên, cái Lá diêu bông là cái lá ǵ, ở đâu, nào tôi có biết. Thần linh đọc
diêu bông, tôi chép diêu bông, thế thôi. Nhưng nó có nguồn gốc của nó đấỵ Năm 12
tuổi, tôi say mê một người con gái láng giềng hơn tôi những 8 tuổị Chuyện từ năm
lên tám, tôi đi trọ học trên thị xă Phủ Lạng Thương, chiều thứ bẩy, mươi phút xe
lửa lại đưa tôi về nhà, ở cái phó ga xép Như Thiết, tên chữ nhà ga đề là Núi
Tiết, thực tên là Thiết Sơn, một tổng thuộc huyện Việt Yên. Phó ga ấy cách Hà
Nội 44 km. C̣n 6 km th́ qua cầu sông Thương (con sông Thương nước chẩy đôi ḍng),
tới ga Phủ Lạng Thương. Đường số 1 chạy qua trước cửa nhà, sau lưng là đường
hỏa-xa Hà Nội-Lạng Sơn. Nhà tôi có tủ thuốc bắc của ông bố, có đôi bồ hàng xén
của bà mẹ. Một chiều thứ bẩy, khoảng hơn 4 giờ, tôi về nhà thấy một cô gái đang
mua ǵ của mẹ tôị Khi cô ấy ngửng đầu lên, nh́n ra đường th́ cậu bé lên tám
choáng người, như sau này người ta thường gọi là coup de foudrẹ Người con gái
đẹp đến mê hồn. Rồi thứ bẩy sau về nhà, tôi trao bức thư tỏ t́nh đầu tiên viết
bằng thơ lục bát, dài hơn một trang giấy kẻ học sinh trên có vẽ hoa bướn, môt
vài ngọn núi, một ḍng sông với chữ viết bằng mực tím, nắn nót: "Em gửi Chị Vinh
của Em". Ấy, sở dĩ mới bé tí đă làm được một trang thơ lục bát v́ ở trên nhà trọ
chỗ thân t́nh với bố tôi, chủ nhà chính là cái ông xếp cái ga xép Núi Tiết ấy,
gia đ́nh ông trên tỉnh đông con, làm nghề hàng xay, hàng xáo, đêâm nào cũng xay
lúa, giă gạo rồi quạt xẩy đến khuyạ Tôi học bài, làm bài xong, tuy buồn ngủ, các
anh, các chị cứ bắt xuống nhà ngang, từ 9 giờ tối, đêm nào cũng phải đọc đủ thứ
chuyện dân gian, in khổ nhỏ, bán rẻ từ 2 xu đến 1 hào, đủ các loại truyện, thể
thơ lục bát, từ Trê Cóc đến Truyện Kiều, từ Nhị Độ Mai đến Hoa Tiên, rồi Lục Vân
Tiên, Hoàng Trừu, Thạch Sanh, Phạm Công-Cúc Hoa, Tống Trân-Cúc Hoạ..V́ thực ra,
ngay từ bé, tôi sớm có giọng hát hay, ngâm thơ cũng hấp dẫn người nghe lắm. Đọc
hết lượt, phải đọc lạị Thể thơ lục bát thấm vào người từ nhỏ, ḿnh lại bẩm sinh
yêu thích thơ ca, nên tôi có viết bức thư t́nh gửi người gái Kinh Bắc, người Chị
làm Em say mê ngơ ngẩn suốt năm năm ấy, mà thư t́nh lại viết bằng thơ lục bát
th́ hẳn không phải là điều ǵ đáng ngạc nhiên phải không, thưa các bạn? Tôi mê
say Chị, Chị đi đâu Em theo đấy, chỉ c̣n biết gọi Chị ơi chứ c̣n biết nói ǵ hơn.
Người gái tuyệt sắc ấy con một nhà nho chẳng may chết sớm, ba mẹ con, mẹ góa con
côi, đèo ḅng nhau lên cái phố xép này mở ngôi hàng bán kẹo bánh, nước chè tươi,
nước vối, cả bánh đa, bánh đúc, bánh mật, bánh khoai. Chị Vinh vơ vẽ chữ nho,
đọc thông quốc ngữ, người quê gốc cũng Tiên Du, nên hát quan họ th́ làm mê người
ta ngang với nhan sắc của chị. Chị cũng thừa biết thằøng bé con này, (tên khai
sinh là Bùi Tằng Việt, chỉ đơn giản là tôi ra đời ở thôn Phúc Tằng, huyện Việt
Yên, Bắc Giang, nơi bố tôi ở nhờ để gơ đầu trẻ) biết thằng bé con này nó mê đắm
ḿnh, nên chị cứ hay trêu đùa, lắm lúc tôi phát khóc, nhưng cũng nhiều giờ phút
tôi có một niềm hạnh phúc không có ǵ so sánh nổi là được chị Vinh cho ngồi sát
bên Chị, chầu ŕa những cuộc chơi tam cúc ngày Tết, ngày xuân hay ngày hội. Chị
thường nhờ những đêm trăng sáng vào mùa hè, mùa thu, tổ chức những đám thanh
niên tụ tập ở cái băi sau nhà ga, hát ví, hát rrống quân, hát ống, hát giao
duyên, hát vấn đáp, đặc biệt về môn quan họ th́ Chị là bà chúa của dân ca! Giọng
ngọt, say như mật ong, đôi mắt đen buồn thăm thẳm với hàng mi cong và dài, má
luôn luôn ửng đỏ, môi luôn luôn đă hồng lại c̣n cắn chỉ quết trầu, răng đen cũng
rưng rức hạt na. Chị Vinh ơi, viết đến đây, em vẫn bồi hồi nhớ từng sợi tóc chị
dán trên vừng trán, từng con mắt chị lúng liếng t́nh tứ, từng giọng hát, từng
lời nói, từng nụ cười, em c̣n ngửi thấy hơi tóc ấm của Chị thoảng mùi hương nhu
mới gội buổi chiều, mà nếu Chị buông tóc dài qaú đầu gối để hong khô th́ cả suối
tóc ấy làm thành thế giới mê say của riêng em từ độ ấy đến ngày nay, dẫu tóc em
đă trắng hết, em vẫn có thể vẽ đúng chân dung Chị tuyệt vời nếu có người chỉ dẫn
cho em đôi điều cơ bản về hội họa. Ảnh Chị in mầu trong hồn em, không một nhà
khoa học nào có thể làm ra cho em được những tấm ảnh như em đang có, vẫn c̣n đầy
đủ và tươi tắn, nguyên vẹn từ hơn sáu chục năm rồi đấy, Chị ơi!
T́nh cảm Em với người Chị ấy, sơ lược là thế. Tôi sẽ viết tỉ mỉ hơn nhiều trong
tập hồi kư sau này, để một số bạn ở xa quê hương hiểu kĩ về thơ tôi hơn, tránh
được những điều b́nh luận sai lạc. Trong tập Về Kinh Bắc th́ hai nhân vật Chị và
Em ấy đă xuyên qua năm tháng và không gian, qua gió mưa và nắng đẹp, qua biết
bao biểu hiện của tâm tư, của số phận, mà trội lên vẫn là cái sầu đơn phương, cứ
vương vấn măi, cho tôi nhớ măi một kiếp này, biết đâu c̣n xót xa yêu thương vào
tận kiếp saụ..Kiếp sau nữa..
Vậy th́ chỉ mới sau vụ Nhân Văn-Giai Phẩm có một thời gian ngắn, thơ tôi đă lùi
về quá khứ, chẳng biết có phải ẩn dụ, ẩn diếc ǵ chăng, chỉ có điều là qua 48
bài tôi không một phút nào nghĩ đến thời cuộc chính trị và xă hội trước mắt. Tôi
ch́m về một quê hương xa, có thực mà như ảo ảnh, là ảo ảnh mà tưởng như gần gũi
đâu đây, cứ chập chờn năm tháng và bảng lảng trời mây, xanh mơ mong manh mầu kỷ
niệm pha chút tím của tiếc hận, chút hồng của tuổi thơ, chút biêng biếc thắm của
say mê, năo nùng, của thương cảm không có bến buông neo, và nh́n chung chỉ thấy
con mắt của thời gian không hề suy suyển đến một sợi mi cong...Như gần đây tôi
đă phải thốt ra: "Mắt thời gian càng miên man xanh.."
Rồi Chị Em đi Về Kinh Bắc, lúc th́ đố lá Diêu Bông, lúc vào Vườn ổi, lúc Đánh
tam cúc, lúc lên Ngọn Sông Thương, lên tít Ngọn Kỳ Cùng, lúc Đếm sao, Đếm nắng,
Đếm giờ, Em cứ Theo Đuổi Chị qua hội hè rồi qua cả những tàn tạ của cảnh vật và
ḷng người, cho đến mùa rét năm 1934. Cái Lá Diêu Bông bắt nguồn từ buổi chiều
năm ấy, h́nh như vào dịp nghỉ lễ Thiên chúa Giáng sinh, những bốn năm ngày liền
tôi về nhà, nghĩa là cứ nghỉ học là tôi về ngay nhà với niềm say mê đơn phương,
một chuyện t́nh có Chị, có Em mà tôi vẫn chỉ là một khối cô đơn lẽo đẽo bụi hồng.
Tôi đă 12 tuổi và chị Vinh đă 20. Và chiều mùa đông ấy, nắng hanh vàng rộm. Trời
xanh trong màn sương cực mỏng không một gợn mây. Heo may se se lạnh. Chị mặc váy
kiểu Đ́nh Bảng, áo cánh lụa mỡ gà đă cũ, có mảnh vá trên vai, ngoài bó chẽn lưng
ong bằng cái gi-lê tím, sờn rách, chiếc yếm mầu cánh sen nhạt, dây thắt lưng hoa
đào, chị thoăn thoắt đi ra ngoài cánh đồng, ngày ấy lúa đă gặt hết. Cả cánh đồng
rộng đầu cái phố ga xép ấy chỉ c̣n trơ những cuống rạ tít tắp đến chân dăy núi
Neo. Cậu bé em 12 tuổi, vốn dĩ lúc nào cũng trông ngóng, ngó nh́n, chờ Chị, thấy
Chị đă bỏ cửa hàng chiều vắng khách, mặc cho đứa em trai lên sáu ngồi xua ruồi
hoặc ăn vụng cái kẹo vừng, rồi thấy Chị bước nhanh ra cánh đồng, đương nhiên là
cậu em theo ngay, và bất ḱ đi theo Chị ở đâu, đến đâu cũng chỉ cách sau lưng
Chị có ba bước. Chị đi trên bờ ruộng, cứ vạch từng búi cỏ đầu bờ hoặc từng đám
cây hoang dại trên mấy cái g̣ nhỏ giữa đồng và cắm cúi t́m...T́m...Em chả biết
Chị t́m ǵ vậy. Em cứ theo sau, không hỏi, không nói, trống ngực cứ th́ thùng
từng phút giây theo đuổi, miệt mài lâng lâng say. Lâu lắm, bỗng chị đứng thẳng
người quay mặt nh́n Em, rồi nói, như một lời trách, như một lời quở mắng, lại
như một lời ḿnh nói với chính ḿnh ( gần 60 năm rồi hôm nay tôi c̣n nhớ như in
từng lời trong bộ năo đă hơi suy, trong tấm ḷng may thay vẫn là tấm ḷng 12
tuổi): "Ơ hay! Sao mày cứ theo tao lẵng nhẵng măi thế thế nhỉ?" Máu Em dồn lên
nóng ran khắp người, hẳn là cậu Em đang đỏ mặt, môi Em run run không nói lại với
Chị được nửa lời. H́nh như Em thoáng thấy Chị mỉm cười, rồi Chị lại bước qua bờ
ruộng khác, vẫn t́m, t́m măi. Nắng đă sẫm dần. Măi sau, Em mới bạo dạn hỏi:
-- Chị Vinh ơi! Chị t́m cái ǵ thế?
Chị Vinh quay phắt lại, h́nh như má Chị hồng hơn lúc nẫy. Chị nh́n thẳng, nh́n
xoáy vào mắt Em và hơn 60 năm rồi tôi vẫn c̣n nhớ cái miệng như vẽ rất tươi của
Chị đậm nét một nụ cười trêu cợt rất kiêu sa. Chị nói, cũng một giọng bỡn cợt
như thách đố, như đùa vui trên ghẹo:
-- Ừ, chị (các bạn chú ư giùm tôi cách thay đổi chủ từ trong câu nói của Chị)
Chị đi t́m cái lá...ấy đấy, đứa nào t́m được cái lá... ấy (Chị càng cười càng tỏ
vẻ trêu cợt) ta gọi là chồng!
Các bạn ơi, nghe vậy, tim tôi như lặng đi, ngừng lại vài giây rồi đập rất mạnh,
người tôi nóng ran lên trong lúc xế chiều càng lạnh. Lúc đó, Chị nói tên một cái
lá có lẽ có thật, chỉ mấy năm sau th́ tôi quên bẵng, thôi th́ hôm nay tôi cứ gọi
cho nó có tên như chị đă gọi tên, Lá Thanh thảo hay Đài bi chẳng hạn hoặc gọi "lá
tai voi", "lá mắt nai" ǵ đó, xin thú thật với các bạn là ít lâu sau buổi chiều
mùa rét ấy, tôi không nhớ nữa. Nhưng ngay lúc bấy giờ, sau cơn nóng bừng toàn
thân ấm áp vào tận đáy thẳm tâm hồn ấy, tuy mới 12 tuổi, tôi cũng đă nghĩ ngay
ra rằng cái lá ấy rất hiếm, ở những vùng nào nhiều đồi núi, khe suối cơ, may ra
mới t́m được, mà t́m lá ấy chắc là để chữa khỏi một cái bệnh ǵ hiểm nghèo nguy
kịch hoặc có khi lại lấy lá ṿ nát ra, hay giă kỹ lấy nước xoa lên khắp mặt sẽ
làm cho da dẻ tươi hồng, mịn màng lên. Nhưng hẳn là khó t́m lắm lắm, chả thế mà
Chị đi hết bờ này, băi nọ, gần cả một buổi chiều, có thấy được đâu! Cái lá oái
oăm thế! Chị mới trêu đùa thằng bé mà Chị biết là nó đang say mê ḿnh, nó "phải
ḷng" ḿnh từ năm năm nay rồị..c̣n ǵ! "Đứa nào t́m được...ta gọi là chồng!" Chị
Vinh ơi, bây giờ Chị ở cơi nào, nếu c̣n sống, chị cũng đă gần tám mươi đấy chứ,
sao hôm nay Em đă ngoài bẩy mươi, lúc Em viết những trang nhớ lại này, Em hoàn
toàn vẫn là đứa Em 12 tuổi đang theo Chị và Chị vẫn đang tuổi hai mươi, ngoài
cánh đồng làng Như Thiết ấy, Chị vẫn trẻ đẹp diệu kỳ, Chị ơi! (...)
Trở lại mùa rét năm 1959, nghĩa là đúng một phần tư thế kỷ đă qua sau cái chiều
mùa đông có Chị có Em trên cánh đồng quê. Chị t́m lá rồị..Chị đố lá..."Đứa nào
t́m được... ta gọi là chồng.." Và bài thơ duy nhất trong đời làm thơ của tôi do
thần linh giọng nữ cao đọc từ đầu đến cuối cho tôi chép như viết chính tả. C̣n
một số bài khác như Cây Tam Cúc, Qua Vườn Oåi, Cỏ Bồng Thi, Bên Kia Sông Đuống,
Chùa Hương, Về với tạ.Những bài thơ cũng được nhiều bạn đọc ưa thích trong nhiều
năm th́ bao giờ cũng ra đời trong đâêm và vài ba câu đầu bao giờ cũng không phải
là của tôi nghĩ ra, mà đúng thật là những lời văng vẳng bên tai như có một giọng
nữ đang hát, hay đang đọc có nhịp điệu, có tiết tấu mà tôi cứ xin gọi là lời của
thần linh đọc cho ḿnh chép lại được. Nếu chợt nghe mà lười biếng, hoặc chủ quan
nghĩ rằng để sáng mai sẽ ghi lại ra giấy th́ chỉ một vài phút sau muốn nhớ lại,
không tài nào nhớ nổi một chữ, đừng nói là cả ba bốn ḍng...Trong đời làm thơ
của tôi, thời trai trẻ, tôi đă mất khá nhiều những câu thơ "xuất thần" bất chợt
trong đêm khuya, lúc chưa ngủ được nên từ hồi đầu kháng chiến chống Pháp, tôi đă
rút kinh nghiệm, cứ đến giờ (thường là gần nửa đêm), lên giường ngủ, bao giờ tôi
cũng để phía tay trái ḿnh một tập giấy trắng và tay phải cầm sẵn cái bút ch́
học sinh. Hễ không ngủ được, tâm tư lan man đâu đâu, ǵ ǵ đó, mà bỗng nghe vẳng
một câu, dẫu chỉ là một câu bâng quơ, tôi phải ghi ngày lập tức. Lười một tí
thôi là mất đứt. Mà thường lại là những câu thơ rất có sức gợi cảm. Dẫu tiếng
văng vẳng đă tắt, mà c̣n gợi cảm th́ cảm xúc bật trào ra ngay, tôi viết tiếp
bằng cảm xúc của ḿnh. Y như đă có tia nước phun lên th́ phải tiếp tục đào đất,
chắc chắn sẽ có cái giếng đầy nước. Lúc đó th́ cả ba loại thơ (Như các nhà phê
b́nh văn học Trung Quốc đă đúc kết thành lư luận về Thơ) là ngôn thi, tâm thi và
thần thi đều có thể xuất hiện trên trang viết. Và cùng lúc đó th́ có ba cái "thức"
cùng phải hoạt động, phải làm việc cho thơ. Đó là ư thức, tiềm thức và vô thức.
Cũng đủ cả một cặp: trí thức và tâm thức nữa. Ở trong tôi th́ luôn luôn cái tâm
thức làm việc nhiều hơn trí thức, nhất là với toàn tập Vềâ Kinh Băùc, tôi đă huy
động tất cả các lực lượng của ḿnh. Cả thể lực, trí lực, tâm lực và đương nhiên
ở tôi, thần lực thường tự động làm bật ra rất nhiều những lời thơ, lắm khi tưởng
như vô nghĩa, mà ngay chính bản thân tôi cũng không hiểu những từ ngữ ḿnh viết
ra mang ư nghĩa cụ thể ǵ. Ai hỏi tôi Lá Diêu-bông, Cỏ Bồng-thi là lá ǵ, cỏ ǵ,
ở đâu? Tôi chịu không giải thích được. Ngay cả nhiều sinh viên khoa Văn ở Hà Nội
cũng đă hỏi tôi: "Miếu Hai Cô" là ở đâu? Hai cô nào? Tại sao lại thờ? Hoặc Cầu
Bà Sấm là trên con sông nào, Bến Cô Mưa là ở khúc nào của con sông nào, tôi cũng
chịu không có lời giải đáp.
Tôi nghĩ rằng trong lĩnh vực thơ ca, những khúc hát hay, những bài thơ, những
câu thơ hay thường rất khó giảng được hết cái hay của nó. V́ ngoài ư nghĩa cụ
thể của từng câu, từng chữ, thơ lại c̣n nhạc điệu, mà theo tôi nhận xét, nhạc
điệu và âm ngữ trong một bài thơ lại chính là chiếc xe chở cái hồn của bài thơ
đi để nhập, để ḥa với hồn người đọc. Và người xưa cũng đă nói từ lâu đến "Thi
tại ngôn ngoại". Thơ đă có ư là dễ hiểu. Nhưng thơ lại c̣n cái tứ. Cái tứ ở đâu
ra? Từ chữ, từ âm vận, rồi âm điệu. Cái tứ của thơ phải đọc được ở ngoài lời. Có
nhiều bài thơ mang một tứ rất lạ, rất khó giảng, khó b́nh, mà người đọc dẫu yêu
thích bài thơ đến mấy, cũng chỉ cảm thấy mà thôi.
Tôi chỉ hy vọng, rất chân thành, được gặp những tâm hồn bầu bạn, có độ lượng để
bao dung, có tấm ḷng nhân ái để thông cảm, có trí thức đủ để hiểu thấu đáo tác
phẩm và tác giả, hiểu cả điểm mạnh và điểm yếu của một người suốt một đời lấy
Thơ làm cứu cánh, làm mục đích, làm lẽ sống, chứ không bao giờ lấy Thơ làm
phương tiện để cho ḿnh đạt tới những ǵ ǵ đó, ví dụ như danh và lợi, sự bon
chen, sự cầu cạnh, sự thù hận vv...là những cái rất xa lạ với tôi, có lẽ xa lạ
cả Thơ đích thực nữa.
Tôi đă trở về với tâm tư riêng, thế giới riêng của ḿnh như đă nói ở trên, về
với quê hương xưa, vùng Kinh Bắc xưa mà vẫn gần gũi, về với những người đă khuất
bóng ở nhân gian nhưng măi măi hiện diện trong tâm hồn tôi. Và tập Về Kinh Bắc
đă ra đời như thế, để làm cột xương sống cho toàn bộ thi phẩm của tôi kề từ
những năm 40 của thế kỷ này.
Hà Nội những ngày cuối năm Nhâm Thân 1992
Hoàng Cầm.
*
Như vậy là có một người chị thật trong đời Hoàng Cầm, Thi sĩ cho ta biết người
chị ấy có nhan sắc tuyệt đẹp, và thi sĩ yêu người chị ấy ngay năm ông mới tám
tuổi đời. Và chuyện chị đi t́m đồng chiều cuống ra, chị hứa: "Đứa nào t́m được
lá diêu bông..chị gọi là chồng.." là chuyện có thật. Chuyêïn xẩy ra năm 1934,
khi thi sĩ mới 12 tuổi, những h́nh ảnh nằm măi trong kư ức thi sĩ, 25 năm sau --
năm 1959 -- những h́nh ảnh ấy, những t́nh ư ấy, những tâm tư ấy mới chuyển thành
bài thơ Lá Diêu Bông
Tôi biết Thơ Hoàng Cầm năm 1946, khi tôi mới mười ba, mười bốn tuổi. Nhờ ông anh
tôi thích Thơ, sưu tập Thơ, thấy ai có Thơ là mượn về chép lại, chữ anh tôi thât
đẹp, tôi được đọc nhiều Thơ, trong số có Kịch Kiều Loan, tức Người Điên của
Hoàng Cầm. Như nhiều người cùng tuổi mấy câu trong Kiều Loan vào tim tôi năm tôi
mười mấy tuổi, theo tôi đi kháng chiến, theo tôi trở về Hà Nội, theo tôi vào
Nam, theo tôi sống những ngày thật đẹp ở Sàig̣n, theo tôi vào nhà tù xă hội chủ
nghĩa, theo tôi sang Mỹ, ở với tôi đến tận bây giờ:
Tôi nhớ chàng, đôi mắt trong như ngọc
Đă ch́m sâu bùn lạnh đất Kinh Đô
Độ ấy mùa xuân ghen mái tóc
Chồng tôi say đổ nắng trai tơ
Mái tranh nghiêng rót t́nh phong nhụy
Hoa khép hương vàng, gọi chẳng thưa..
Tôi được sinh ra để viết tiểu thuyết, dâểû ca tụng T́nh Yêu, và để phóng tác.
Sáu câu thơ Kiều Loan khi vào trái tim tôi trở thành:
Tôi nhớ Nàng,
đôi mắt trong như ngọc
Không mờ phai sương khói những thu xưa
Độ ấy mùa xuân ghen mái tóc
Tôi về say đổ nắng trai tơ
Mái tranh nghiêng rót t́nh phong nhụy
Hoa khép sầu miên, gọi chẳng thưa..
Năm 1950, sau bốn năm đi kháng chiến ở vùng quê hương Kinh Bắc, trở về Hà Nội
tôi được đọc Kịch Cô Gái Nước Tần của Hoàng Cầm trên tuần báo Tiểu Thuyết Thứ
Bẩy bộ mới. Kịch Thơ một màn: cuộc t́nh Quận Chúa Tần Huyềâøn Cơ- Đại Tướng Quân
Tần Vũ. Chuyện xẩy ra ở nước Tần thời Đông Chu Liệt Quốc. Kịch một màn, chỉ có
ba vai: Tần Vũ, Đại Tướng Nguyên Soái quân Tần, Tần Huyền Cơ, Quận Chúa, Thái Bá,
thầy học và quân sư của Tần Vũ. Cốt truyện ngắn thôi: Ngày xưa quân Sở vào Vân
Các. Màn mở: Tướng Quân Tần Vũ, trẻ tuổi, đẹp trai, uy vũ, ngồi một ḿnh, buồn
nhớ người yêu. Quân Sở vừa kéo vào kinh đô Tần quốc -- Thời Đông Chu chỉ có quân
Tần tiến vào kinh đô lục quốc, không một lần quân nước nào vào được kinh đô Tần,
măi đến đời Hán Lưu Bang nước Tầu mới có Vân Các -- Tần Vũ vừa chỉ huy quân Tần
đánh đuổi quân Sở ra khỏi kinh đô. Thái Bá vào, báo cho Tần Vũ biết quân Tần bắt
được Quận Chúa Tần Huyền Cơ, người đẹp này can tội "phản quốc, làm gián điệp cho
quân Sở!" Nàng là người yêu của Tần Vũ. Thái Bá sợ Tần Vũ v́ yêu Huyền Cơ mà tha
tội cho nàng nên nói mấy lời khuyên Tần Vũ phải bỏ t́nh riêng để làm việc công:
" Mà Công tử th́ hăy c̣n trẻ tuổi. Lăo chỉ e rồi bể t́nh đắm đuốị.", Huyền Cơ
được đưa vào gặp Tần Vũ, cuối cùng Tần Vũ cũng ra lệnh giết Huyền Cơ. Chỉ được
đọc vở kịch có một lần tôi c̣n nhớ lơm bơm mấy câu:
Ngày xưa quân Sở
vào Vân Các
Em rạt về đâu, mấy nhớ thương..!
...
Nhưng người yêu xông pha trên chiến địa
Có bao giờ nhớ tới Huyền Cơ đâu!
Dây oan khiên giờ đă thắt ngang đầu
Người bạc mệnh có bao giờ hối hận...
Thời gian vỗ cánh bay như quạ..Những ngày như lá, tháng như mâỵ..Một tối tháng
Sáu, hay tháng Bẩy, tháng Tám năm 1975 tôi gặp Lưu Kiếm trên vỉa hè trước chợ
Tân Định -- Lưu Kiếm đă qua đời ở Sàig̣n năm 1985 -- anh nói;
-- Tao gặp mấy thằng văn nghệ ở Hà Nội vào. Chúng nó đọc mấy bài thơ của Hoàng
Cầm cho tao nghe..
Lưu Kiếm không nhớ lời thơ, anh chỉ nhớ ư thơ, anh kể lại hai bài thơ Lá Diêu
Bông và Qua Vườn Ổi của Hoàng Cầm. Đây là lần thứ nhất tôi nghe nói đến Lá Diêu
Bông và Qua Vườn Ổi. Chỉ mới được nghe ư thơ thôi, cảm giác lạ kỳ đến với tôi,
hai đầu gối tôi bỗng dưng nhũn ra, tôi muốn ngồi sụp xuống vỉa hè. Như người hết
hơi tôi thều thào nói:
-- Thơ như thế mới là thơ...
LÁ DIÊU BÔNG
Váy Đ́nh Bảng buông chùng cửa vơng
Chị thẩn thơ đi t́m
Đồng chiều
Cuống rạ
Chị bảo
-- Đứa nào t́m được lá Diêu Bông
Từ nay ta gọi là chồng.
Hai ngày sau Em t́m thấy lá
Chị chau mày:
-- Đâu phải lá Diêu Bông
Mùa đông sau Em t́m thấy lá
Chị lắc đầu
Trông nắng văn bên sông
Ngày cưới chị
Em t́m thấy lá
Chị cười xe chỉ ấm trôn kim
Chị ba con
Em t́m thấy lá
X̣e tay phủ mặt Chị không nh́n
Từ thưở ấy
Em cầm chiếc lá
Đi đầu non, cuối bể
Gió quê vi vút gọi
Diêu Bông hờị.!
Ới Diêu Bông ( 1959)
Tối xưa ấy -- buổi tối 25 năm xưa -- trên vỉa hè Tân Định, chỉ nghe Lưu Kiếm kể
ư thơ thôi, tôi nghĩ ngay đến chuyện người chị trong thơ là Đảng, người em trong
thơ là người văn nghệ sĩ. Đảng muốn người văn nghệ sĩ cung cấp những tác phẩm
tốt, người văn nghệ sĩ đáp ứng lời kêu gọi của Đảng, rất muốn làm đẹp ḷng Đảng,
nhưng tác phẩm nào của anh cũng bị Đảng chê là không đúng với cái Đảng muốn. Khi
người văn nghệ sĩ sáng tác được tác phẩm đúng, Đảng vẫn không dùng v́ thời điểm
để cho tác phẩm đó ra đời đă qua rồi. Người văn nghệ sĩ thất vọng đi vào ḷng
dân tộc, nghe tiếng gió quê vi vút gọi tên tác phẩm của ḿnh. Và đây là bài
QUA VUỜN ỔI
Em mười hai tuổi t́m theo Chị
Qua cầu bà Sấm, bến cô Mưa
Đị..
ngày tháng lụi
t́m không thấy
Giải yếm ḷng trai mải phất cờ
Cách nhau ba bước vào vườn ổi
Chị xoạc cành ngang
Em gốc cây
-- Xin chị một quả chín!
-- Quả chín..
quá tầm tay
-- Xin chị một quả ương
-- Quả ương
chim khoét thủng
Lẽo đẽo Em đi vườn mai sau
Cúi nhặt chiều mưa dăm quả rụng.
Cũng
trong buổi tối 25 năm xưa ấy, trên vỉa hè Tân Đinh, khi nghe bạn kể sơ sơ ư thơ
Qua Vườn Ổi, tôi nghĩ ngay đến chuyện người chị trong thơ là Đảng, người em
trong thơ là người văn nghệ sĩ. Người văn nghệ sĩ trong chế độ xă hội chủ nghĩa
xin Đảng cho ḿnh được hưởng vài lạc thú. Trong thơ trái ổi tượng trưng cho lạc
thú. Trái ổi ương bị chim khoét thủng là những lạc thú tiểu tư sản. Đảng thấy
người văn nghệ sĩ không nên hưởng những thú vui đă ô nhiễm ấy, quả chín là những
thú vui cộng sản nhưng ở trên cao ngoài tầm tay với của Đảng, chưa đến thời kỳ
Đảng có thể cung cấp những lạc thú cộng sản ấy cho nhân dân. Thành ra nhân dân
trong chế độ XHCN suốt đời chẳng được hưởng một lạc thú nào cả.
Năm 1982, sau lần bị tù hai năm lần thứ nhất trở về, một sáng tôi đến ăn bánh
cuốn ở tiệm bà Mỹ Phụng gần cầu Công Lư. Bà cho biết Thi sĩ Hoàng Cầm vào Sàig̣n
mấy năm trước, có gặp bà và viết tặng bà mấy bài thơ. Nghe nói Thơ Hoàng Cầm,
mắt tôi có sáng lên hay không tôi không biết v́ tôi không nh́n thấy mắt tôi, tôi
chỉ biết là tim tôi rung động, tôi nói bà cho tôi mượn xem mấy bài thơ, được
không ạ? Rất dễ dàng bà đáp ứng tôi ngay. Hoàng Cầm viết thơ lên tờ giấy bản khổ
to, mầu vàng, chữ mực Tầu đen, nét chữ đẹp, hào hoa, bay bướm. Nh́n chữ Hoàng
Cầm, tôi nhớ chữ Đinh Hùng. Trong mấy bài thơ Hoàng Cầm viết tặng bà Mỹ Phụng có
bài Cây Tam Cúc, tôi chưa có bài này. Tôi xin bà Mỹ Phụng cho tôi chép bài thơ
ngay tại chỗ, bà bằng ḷng.
CÂY TAM CÚC
Cỗ bài tam cúc mép cong cong
Rút trộm rơm nhà đi trải ổ
Chị gọi đôi cây!
Trầu cay má đỏ
Kết xe hồng đưa Chị đến quê Em
Nghé cây bài t́m hơi tóc ấm
Em đừng lớn nữa Chị đừng đi
Tướng sĩ đỏ đen chui sấp ngửa
Ổ rơm thơm đọng tuổi đương th́
Đứa được
chinh truyền xủng xoẻng
Đứa thua
Đáo gỡ ngoài thềm
Em đi đêm tướng điều, sĩ đỏ
Đổi xe hồng đưa Chị đến quê Em
Năm sau giặc giă
Quan Đốc đồng áo đen, nẹp đỏ
Thả tịnh vàng cưới Chị
vơng mây trôi
Em đứng nh́n theo, Em gọi đôi.
Không biết tại sao vừa đọc bài Cây Tam Cúc tôi nghĩ ngay đến chuyện tác giả muốn
nói đến thân phận người văn nghệ sĩ trong chế độ XHCN -- có thể nói trong mọi
chế độ, trong tất cả các thời, ở tất cả các nước sau chiến tranh. Quan Đốc đồng
Tam Cúc là kẻ có súng, kẻ có súng nói chiến thắng là do công của tao, tao có
công tao chiếm hết, chúng mày không được hưởng cái ǵ cả.
Năm 1982, 1983 tôi viết một số bài văn-chính luận gửi ra nước ngoài, trong số có
hai bài "Hiện tượng Hoàng Cầm" và "Hiện tượng Dương Quỳnh Hoa". Trong bài viết
về Thơ Hoàng Cầm, tôi suy diễn ba bài thơ Lá Diêu Bông, Qua Vườn Ổi, Cây Tam Cúc
theo cảm nghĩ của tôi, những cảm nghĩ tôi vừa tŕnh bày. Năm 1983 tôi nghe nói
Hoàng Cầm bị bắt ở Hà Nội, tháng 4, 1984 tôi nghe Đài Phát Thánh Kháng Chiến
Hoàng Cơ Minh trong một bài b́nh luận, nói đến Hoàng Cầm, Nguyễn chí Thiện và
tôi là những văn nghệ sĩ có thơ văn chống Cộng. Tháng 5, 1984 tôi bị bắt lần thứ
hai. Năm 1988 tôi ra ṭa án Thành phố Hồø chí Minh, trong cáo trạng về tôi Ṭa
VC có nói đến hai bài "Hiện tượng Hoàng Cầm, Hiện tượng Dương Quỳnh Hoa".
Năm 1992 tôi nghe kể anh công an thẩm vấn Hoàng Cầm, nói:
-- Thơ anh mấy bài Lá Diêu Bông, Qua Vườn Ổị.có thằng nó suy diễn như thế này,
nó viết bài nó đăng ở nước ngoài, anh nghĩ sao?
Hoàng Cầm trả lời:
-- Nếu thơ tôi làm cho có người nghĩ như thế th́ tôi có tội.
Chuyện trên đây tôi nghe một anh bạn tôi ở Hà Nội kể lại, tôi không đoan chắc là
chuyện có thật.
Mời bạn đọc lại mấy câu tâm sự của Hoàng Cầm:
...Vậy th́ chỉ mới sau vụ Nhân Văn-Giai Phẩm một thời gian ngắn, thơ tôi đă lùi
về quá khứ, chẳng biết có phải ẩn dụ, ẩn diếc ǵ chăng, chỉ có điều là qua 48
bài tôi không một phút nào nghĩ đến thời cuộc chính trị và xă hội trước mắt. Tôi
ch́m về một quê hương xa, có thực mà như ảo ảnh...(...)
...Tôi sẽ viết tỉ mỉ hơn trong tập hồi kư sau này, để một số bạn ở xa quê hương
hiểu kĩ về thơ tôi hơn, tránh được những điều b́nh luận sai lạc.
Như vậy là những bài thơ Lá Diêu Bông, Qua Vườn Ổi,Cây Tam Cúc không có, không
mang những ư nghĩa như tôi tưởng, những ư nghĩa đó là do tôi nghĩ ra khi đọc thơ,
không phải ư của tác giả. Tôi đă hiểu sai, đă b́nh luận sai lạc vể những bài thơ
đó. Nếu những cảm nghĩ của tôi có làm cho Thi sĩ gặp một vài khó khăn, phiền
toái, tôi trang trọng xin lỗi ông.
Tôi thấy từ ngữ Thi Văn có sự huyền diệu là khi nó đánh vào trái tim người
thưởng ngoạn, nó gây ra những hồi ứng khác nhau tùy theo tâm trạng mỗi người.
Không phải ai đọc, cảm động, thấy hay, những bài Lá Diêu Bông, Qua Vườn Ổi ..đều
có cảm nghĩ như tôi. Tôi khiêm tốn hỏi Thi sĩ, và bạn đọc, cảm nghĩ của tôi về
những bài thơ vừa kể nghe có được không, có lư không? Hay tôi cố t́nh xuyên tạc,
trơ tráo gán cho lời thơ những ư nghĩa mà nó không có, tôi b́nh luận láo lếu, vô
lư? Nếu tôi đọc những bài thơ ấy trước ngàøy 30 Tháng Tư 1975 chắc chắn tôi
không có những cảm nghĩ như thế. Sáng tác là quyền của thi sĩ tác giả, nghĩ ǵ
về tác phẩm, có những ư nghĩ ǵ sau khi đọc tác phẩm là quyền của người đọc.
Trong một thư gửi cho ông bạn ở Hà Nội, viết vào lúc 5 giờ sáng ngày 22/ 9/
1976, Hoàng Cầm kể:
Trích "Hoàng Cầm Văn Xuôi," trg.289:
...Hôm mới vào Sàig̣n gặp một anh bạn đưa ngay đến anh một thầy tử vi, thầy chỉ
cần hai phút là gọi hết các sao biến hiện, xuất nhập của lá số tôi, thầy nói (ông
thầy mù hoàn toàn) "Ngài là một người thông minh, tài giỏi, nhưng cả cuộc đời
chỉ là hai chữ "dở dang." Công danh, sự nghiệp dở dang, gia đ́nh, t́nh yêu dở
dang. Dở dang hết, không một cung nào trọn vẹn, trừ cung Phúc Đức, có những sao
đắc cách đă cứu Ngàị" Thầy c̣n nói nhiều, (rất đúng) nhưng tôi khoái câu mở đầu
ấy của thầy lắm - Mà quả thế, ông Phấn ạ "Đời ông chỉ là hai chữ dở dang." Ngưng
trích.
Khi đọc những bài Lá Diêu Bông, Qua Vườn Ổi, Cây Tam Cúc và có những ư nghĩ như
tôi đă kể, tôi vẫn mong, vẫn định ngày nào được gặp Thi sĩ tôi sẽ hỏi ông có
phải khi làm những bài thơ đó ông có ư nói lên bằng ẩn dụ những ư nghĩa như tôi
nghĩ không? Cho đến nay tôi chưa có duyên được gặp Thi sĩ lần nào. Tôi mong ông
có dịp đọc những bài viết này của tôi, tôi tin sẽ có ngày tôi được gặp ông. Tôi
đă viết về ông, Thơ ông, từ hai mươi năm xưa khi tôi ở Sàig̣n, hôm nay xa cách
nhau một đại dương, tôi viết về ông với ḷng cảm mến và thương xót. Tôi vùa đọc
GHI của Trần Dần, HỎA L̉ của Nguyễn Chí Thiện; h́nh ảnh Thi sĩ Hoàng Cầm, một số
việc ông làm, được hai ông Trần Dần, Nguyễn Chí Thiện kể làm tôi đau ḷng. Tôi
sẽ viết về chuyện ấy trong bài tới.
Để kết bài này, tôi muốn nối thêm lời ông thầy bói mù Sàig̣n 1976 nói về cuộc
đời Thi sĩ Hoàng Cầm:
-- Đời ông có một cung không dở dang, một cung trọn vẹn, thật đẹp. Đó là cung
Thi Sĩ. Ông được sinh ra để làm thơ, để làm thi sĩ. Ông đă là thi sĩ rồi, ông
c̣n đ̣i hỏi ǵ thêm nữa? Ông c̣n cần ǵ nữa để phải đ̣i hỏi? Nếu đời ông có
chuyện ǵ để người đời đàm tiếu th́ số ông cũng giống như số cô chị Lá Diêu Bông
đồng chiều, cuống rạ, môi trầu cắn chỉ, ổ rơm thơm đọng của ông, cô Thúy Kiều:
Rằng tài nên trọng mà t́nh nên thương!.
CÔNG TỬ HÀ ĐÔNG
Viết ở Rừng Phong