NGỌC HÂN CÔNG CHÚA

Xin cám ơn sự đóng góp quí hóa của VTB, Vương Sinh và các bạn trong Hùng sử Việt

Trong chính sử  có bà Lê Ngọc Hân là vợ vua Quang Trung . Bà là người văn thơ giỏi ,mưu lược thần sầu đă giúp chúa Trịnh lo việc binh thư trong cuộc mưu bá đồ vương với nhà Nguyễn , và sau giúp chồng là vua Quang Trung soạn binh pháp đánh kiểu "lấy ba đánh một không chột cũng què " . Bà chính là mẹ đẻ ra tổ "tam tam chế " lập nhóm ba người , thay phiên nhau ,hai người gánh vơng cho một nằm nghỉ trong lúc hành quân .

V́ theo phong tục Á Đông trước đây ,phụ nữ chỉ lo việc nội trợ ,lo gia đ́nh chứ không lo chuyện Quốc Gia đại sự . Bà Ngọc Hân làm nội tướng đúng nghĩa v́ bà nằm trong bóng tối giúp chồng đánh giặc

Khi nhà Nguyễn phục quốc lên ngôi , cho truy lùng ḍng tộc con cháu Tây Sơn để giết sạch . Bà mau chóng hủy hoại nhan sắc , hoá trang thành một người khác đem con là Nguyễn Quang Thùy và Ngọc Hạnh (?)chạy vào trong Nam lánh nạn rồi giao cho người khác nuôi ,thay tên đổi tuổi . Khi bị nô bộc làm phản , chỉ điểm nhà Nguyễn bắt ,bà quyết bảo vệ giọt máu Quang Trung , bảo vệ không khai con ở đâu ,cắn lưỡi tự vận để bảo toàn trung tiết ,xứng đáng là một bà mẹ bà vợ ,một liệt nữ anh thư trong chính sử !
Dân chúng lúc ấy, không ai dám nhắc đến tên bà Lê Ngọc Hân nên sự lưu truyền trong dân gian bị mai một , chỉ c̣n những con cháu công thần hay ḥang tộc nhà Lê c̣n nhớ chuyện này nhờ cha ông truyền khẩu.

VTB

----

Theo Vương Sinh, các nhà viết sử ngày nay "ngại" nhắc đến tên Công Chúa Ngọc Hân (để đưa vào danh sách Phụ nữ truyền thuyết)v́ những lời đồn đăi và những "truyền thuyết" gây bất lợi cho thân thế của công chúa Ngọc Hân như sau:
- Tạp chí "Phổ Thông" của ông Nguyễn Vỹ (khoảng tháng 8 năm 1961) có bài viết của ông Nguyễn Thượng Khánh (thuộc ḍng dơi Hoàng Tộc Lê Duy Mật)nêu lên nghi án lịch sử: "Ngọc Hân Công Chúa đă đầu độc vua Quang Trung v́ ghen (vua Càn Long nhà Thanh hứa gả công chúa cho vua Quang Trung).
- Tập san "Đô Thành hiếu cổ" xuất bản ở Huế vào năn 1941 đă đăng một bài viết về Công Chúa Ngọc Hân với đề tựa: "Sự trớ trêu của ông Tơ bà Nguyệt hay duyên số kỳ lạ của Ngọc Hân Công Chúa", trong đó tác giả đă "tưởng tượng" ra cảnh vua Gia Long lấy công chúa Ngọc Hân thật ly kỳ như một truyện tiểu thuyết.
Các bài viết này đă gây tổn hại tới thanh danh của bà Ngọc Hân không ít, và đă gây ra nhiều cuộc bút chiến, tranh căi.
VS sẽ nêu lên một số bài "phản bác" lại các lập luận kể trên sau khi đă thâu thập thêm tài liệu.
VS cũng xin bổ túc:
-Theo tài liệu của GS Trần Gia Phụng th́ Cô Giang tức Nguyễn Thị Giang mới chỉ là vị hôn thê của nhà cách mạng Nguyễn Thái Học. Cô Bắc tức Nguyễn Thị Bắc là chị ruột (?) của cô Giang bị mật thám Tây bắt trước và đưa ra toà xét xử. Cô Bắc đă tuyên bố trước Toà: "Các ông hăy về nước Pháp mà kéo đổ tượng Jeanne d'Arc". Cô Giang trốn thoát, nhưng khi hay tin lănh tụ Nguyễn Thái Học lên đoạn đầu dài, cô đă dùng súng lục tự tử.
- Theo tài liệu của ông Nguyễn An Phong, bà Ngọc Hân đă sinh hạ được hai con với vua Quang Trung là Hoàng Tử Nguyễn Văn Đức và Công Chúa Nguyễn Thị Ngọc.

---

Nàng công chúa Lê Ngọc Hân, bị chính nhà Lê (triều đ́nh Lê Chiêu thống) ghét bỏ, xóa tên trong sổ Hoàng Tộc cũng v́ khi kết hôn với Chúa Tây Sơn là Nguyễn Huệ đă giúp chồng trong sự nghiệp an trị và đánh đuổi ngoại xâm. Khi nhà Nguyễn Gia Long được nước, Bà Ngọc Hân lại chính là Hoàng Hậu của "kẻ thù", nên nhà Nguyễn không ưa ǵ nàng công chúa này!

Ngọc Hân
Thiên hương quốc sắc lại đa tài
Sánh với anh hùng dễ mấy ai?
Công chúa nhà Lê thời mạt vận
Nữ Hoàng triều Nguyễn (Tây Sơn) thuở hùng oai
Truân chuyên, nào biết đời hoa thắm
Phiêu bạt, đâu ngờ kiếp lá bay
Danh tiếng một thời trang tiết liệt
Sử xanh truyền tụng mấy ai hay!
 

Tiểu Sử Công Chúa Ngọc Hân
Theo tác giả Nguyễn Hiền trong bài biên khảo "Ai Tư Văn" của Ngọc Hân, cho biết công chúa Lê Ngọc Hân sinh năm 1770 và mất năm 1799 (hưởng dương 29 tuổi).
Trong bài biên khảo "Hăy trả lại sự trong sáng cho Ngọc Hân Công Chúa", tác giả Nguyễn An Phong cho biết thêm chi tiết: "Lê Ngọc Hân sinh ngày 24 tháng 4 năm Canh Dần (22 tháng 5 năm 1770,) là vị công Chúa tài sắc vẹn toàn của vua Lê Hiển Tông". Ông Nguyễn An Phong cũng cho biết bà Ngọc Hân tức Bắc Cung Hoàng Hậu sinh hạ được 2 con với vua Quang Trung là Hoàng Tử Nguyễn Văn Đức và Công Chúa Nguyễn Thị Ngọc.
Bắc Cung Hoàng Hậu Lê Ngọc Hân mất từ bao giờ?
Cũng trong bài biên khảo kể trên, tác giả đă nêu lên các giả thiết:
- Theo "Nhân Vật Tây Sơn" (tác giả?), khi Nguyễn Ánh chiếm được Phú Xuân(1801), Ngọc Hân Công Chúa và hai con đến ẩn ở Quảng Nam. Sau bị phát giác,quan quân nhà Nguyễn Gia Long bắt giải về Phú Xuân và bị xử trọng h́nh theo lối "Tam ban triều điển"
- Theo Ông Ngô Tất Tố trong bài lược sử về Công Chúa Ngọc Hân, đă cho rằng Lê Ngọc Hân tự tử và hai con phải thắt cổ mà chết.
- Theo Nguyễn Hiền trong bài "Ngọc Hân Nữ Sĩ với Ai Tư Văn", dân làng Phù Ninh kể lại cho biết bà từ cung (?) đưa 2 con nhỏ của Ngọc Hân về nuôi giấu trong nhà nhưng sau cả hai đứa trẻ đều chết (?). Về sau vua Gia Long cho người về làng khai quật mồ hai đứa trẻ, một ông từ trong làng giữ miếu thờ Bà Chúa Nàng (tứa Ngọc Hân) cũng bị bắt giam.
- Theo "Đại Nam Chính Biên Liệt Truyện Sơ Tập - Ngụy Tây Liệt Truyện" Nguyễn Ánh mang quân đánh úp Phú Xuân. Ngày mồng 3 tháng 5 năm Tân dậu (1801) vua Cảnh Thịnh Quang Toản phải bỏ thành chạy vội vă, "bỏ lại sắc và ấn tín của triều nhà Thanh phong cho, vừa ra khỏi cầu Phú Xuân mấy dặm th́ quân đều tứ tán...". Xem thế đủ hiểu, nếu Công Chúa Ngọc Hân c̣n sống sẽ rất khó có thể chạy thoát khỏi Phú Xuân cùng với 2 con nhỏ.

Vương Sinh

----

Có một nhầm lẫn về năm chết của Ngọc Hân . Theo Lê Hiền , cho biết Ngọc Hân chết năm 1799 ,mà lúc Nguyễn Ánh chiếm Phú Xuân lại là năm 1801 ?
Ngọc Hân tự tử chết là đúng ! Nhưng c̣n nhiều nghi vấn xoay quanh cái chết của hai con vua Quang Trung v́ thời ấy là điều cần bảo mật ,không ai dám hó hé ! Nếu ta lần theo dấu vết cũ cúa các trung thần triều Lê ,người gần gũi nhất với gia đ́nh Lê Ngọc Hân là Công chúa Lê Ngọc Quỳnh ,phu nhân của Ngoạn Trung Hầu Nguyễn Gia Cơ (em Ôn Như Hầu ),th́ theo các cụ thuộc ḍng họ Nguyễn Gia tại làng Liễu Ngạn ,phủ Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh cho biết , thời niên thiếu Gia Vu là con của Công chúa Ngọc Quỳnh thường chơi thân với Quang Thuỳ con Ngọc Hân .
Vả lại , có mấy câu thơ từ Nguyễn Gia thế phả như sau .

Năm Nhâm Tuất (1802) mây trùm ảm đạm
Giải sông Thương đă cạn lệ sầu
Gia Vu đứng ở giang đầu
Khóc ông Ḥang Đệ (Quang Thùy ) hay đâu khóc ḿnh
Tuy cảnh khác song t́nh không khác
Cả hai người cùng trạc thanh xuân
Quang Thùy mất nước hủy thân
Gia Vu nhớ nước ,cô thần bơ vơ
Bầu nhiệt huyết ôm chờ nhạn Bắc (Ngọc Hân )
Ngày lại ngày im bặt tăm hơi
Trông vời quan ải xa xôi
Đêm đêm mơ thấy bóng người ra đi .

Cứ theo mấy vần thơ trên ,có thể suy đoán Lê Ngọc Hân chết sau năm Gia Long lên ngôi ,tức là phải sau năm 1802 . C̣n về Quang Thuỳ khi các cụ dùng chữ "hủy thân " như thể muốn đánh lạc hướng sự truy nă của nhà Nguyễn , vẫn chưa cả quyết c̣n sống hay chết ! Nếu chết các cụ sẽ dùng chữ vong thân hay mệnh chung .

Sơn Khê

----

Theo "Đại Nam chính Biên Liệt Truyện" - "Nguỵ Tây Liệt Truyện" vua Quang Trung Nguyễn Huệ đă đổi tên là Nguyễn Quang B́nh khi giao thiệp với nhà Thanh.
Cũng theo truyện này, Bà hoàng hậu họ Phạm (Bà vợ thứ nhất?)của vua Quang Trung có 3 con trai là Nguyễn Quang Toản (đích = trưởng), Nguyễn Quang Thùy và Nguyễn Quang Thiệu (?)(hay Nguyễn Quang Bàn?) và 2 công chúa.
 

VSinh

---

Mối duyên Nguyễn Huệ lấy Ngọc Hân Công chúa là âm mưu của Nguyễn Hữu Chỉnh bàn với chúa Trịnh Sâm , để liên minh với nhà Tây Sơn diệt chúa Nguyễn . Quân Sư nhà Tây Sơn có ư ngăn cản cuộc hôn nhân này v́ cho rằng làm thế là chơi dao hai lưỡi, , nhưng Nguyễn Huệ là một anh hùng khi thấy Ngọc Hân Công chúa nhan sắc tuyệt trần lại là người tài giỏi nên mê ngay quyết không sợ ,nói : " Cứ để ta thử tí món Bắc Hà "

Sau khi liên minh với chúa Trịnh đánh tan chúa Nguyễn trong Nam , nhà Tây Sơn thừa thắng ra Bắc lấy cớ phù Lê để diệt luôn chúa Trịnh chuyên quyền làm bậy nuôi ong tay áo hăm hại nhà Lê .Thế nhưng sau đó, Nguyễn Huệ không chịu giao quyền lại cho vua Lê ,lại tự lên ngôi xưng là Bắc B́nh Vương
Lúc Lê Chiêu Thống "Cơng rắn cắn gà nhà " sang cầu cứu nhà Thanh ,th́ chính Ngọc Hân lại theo hộ giá chồng (nữ nhân ngoại tộc là vậy ! ) ,phản lại triều đ́nh vua cha ,phá vỡ "mạng lưới t́nh báo " nhà Lê ,cho Quang Trung biết tất cả âm mưu của Chúa Trịnh Sâm và vạch mặt những " con khỉ ḍm nhà " ,những nội gián vua Lê gài vào nội đ́nh nhà Tây Sơn dưới vai tṛ Thái giám hoặc nữ t́ cho Công chúa . Từ đó nhà Lê bị tổn thất nặng nề các trung quân nên khai trừ Ngọc Hân khỏi ḍng ḥang tộc (? ). Dù bị khai trừ , Ngọc Hân vẫn không được Nguyễn Huệ tin dùng ,vẫn cho rằng đây là khổ nhục kế . Nỗi khổ cúa Ngọc Hân , của đàn bà dù tiết liệt nhưng không được xem là tôi trung như thể là bị kẹp giữa một gọng ḱm . Do đó, bà Ngọc Hân phải thay tên đổi họ và tráo con bà cả ,con ḿnh cốt để tránh nhà Lê trước đó ,và nhà Nguyễn sau này hăm hại .

Quang Toản là anh cả lên ngôi kế vị sau ngày Quang Trung mất v́ bệnh kiết lỵ (? ) , Quang Thuỳ là thứ ,(con bà lớn ?) . C̣n những tên sau là thời nhà Tây Sơn suy tàn nên tên con cái bị đổi lung tung : Quang B́nh ,Quang Bàn ;Nguyễn văn Đức , Ngọc Hạnh ,Ngọc Định , Nguyễn thị Ngọc ...

C̣n việc Nguyễn Huệ sang Tàu nhận cầu phong làm An Nam Quốc Vương th́ cho người khác giả dạng để đi thay ḿnh đề pḥng nhà Thanh giết .

Sơn Khê

----

Ngọc Hân Công Chúa chết từ bao giờ?

Đây là một nghi vấn lịch sử với nhiều dữ kiện không rơ rệt, gây nên nhiều giả thiết:
1- Ông Nguyễn An Phong biên khảo cho biết: Trong tập "Nhân vật Tây Sơn" ghi chép rằng "năm Tân Dậu (1801), Nguyễn Ánh sau khi chiếm được Phú Xuân, vua Cảnh Thịnh (Nguyễn Quang Toản và một số quần thần cùng Hoàng tộc thoát chạy ra Bắc, c̣n Ngọc Hân Công Chúa phải cải trang, thay tên đổi dạng vào lánh nạn ở Quảng Nam. Được ít lâu th́ bị phát giác, quan quân nhà Nguyễn bắt giải về Phú xuân và xử theo trọng h́nh, lối "Tam ban triều điển".
2- Trong bài lược sử Công Chúa Ngọc Hân của Ngô Tất Tố th́ cho là Lê Ngọc Hân đă tự tử, c̣n hai con phải thắt cổ mà chết.
3- Trong bức thư đề ngày 16 tháng 7 năm 1801 của Barizy, một sĩ quan người Pháp tháp tùng Nguyễn Ánh vào chiếm Phú Xuân đă ghi lại như sau: " Nhà Vua (Nguyễn Ánh) bảo tôi đi xem mặt các cô công chúa của kẻ tiếm vị(Quang Trung). Tôi đến đó, họ ở trong một pḥng hơi tối, không phải là một pḥng sang trọng, có tất cả 5 công chúa: 1 cô 16 tuổi, theo tôi là một cô gái đẹp, một em bé 12 tuổi là con gái của bà Công chúa Bắc Kỳ (Ngọc Hân) em này cũng coi được. C̣n 3 cô nữa từ 16 đến 18 tuổi th́ nước da hơi nâu nhưng diện mạo cũng dễ thương. Ngoài ra c̣n có 3 con trai, có một em độ 16 tuổi cũng da nâu nhưng nét mặt th́ tầm thường, c̣n em trai kia độ 12 tuổi là con của bà Công chúa Bắc Kỳ th́ diện mạo rất đáng yêu và có những cử chỉ rất dễ thương."
4- Theo "Đại Nam Chính Biên Liệt Truyện" (Quyển 30 nói về Ngụy Tây liệt Truyện):"...Ngày mùng ba vua Cảnh Thịnh Nguyễn Quang Toản đem đồ quư giá chạy về bắc bỏ lại sắc và ấn của triều nhà Thanh phong cho, vừa ra khỏi cầu Phú xuân mấy dặm th́ quân đều tứ tán, bèn cùng em là Thái tể Nguyễn Quang Thiệu, Nguyên súy Nguyễn Quang Khanh bọn đại tư mă Tứ, đô đốc Trừu cỡi ngựa nhắm lũy Động Hải ngày đêm chạy gấp..." Phần Sử liệu này cho biết quân Nguyễn Ánh đánh úp Phú Xuân khiến quân Tây Sơn thua, hoảng chạy tán loạc. Số phận công Chúa Ngọc Hân v́ cưu mang 2 con c̣n nhỏ dại, kể cũng khó mà chạy thoát (?). Hơn nữa, theo lá thư của ông Barizy thi quân Nguyễn Ánh đă bắt được 2 con của công Chúa Ngọc Hân. Trong cảnh chạy loạn thường mẹ đâu con đó, sống chết có nhau khó mà rời xa nhau được. Vậy 2 con bị bắt, mẹ hoặc cũng bị bắt, hoặc tự tử hoặc đă chết từ lâu.. các giả thiết này không phải hoàn toàn vô lư.
5- Ngọc Hân đă chết từ 1799? (3 năm trước ngày Phú Xuân thất thủ)(1801)?
Giả thiết này do ông Nguyễn An Phong nêu lên. VS sẽ bàn tới sau.


Vương Sinh

----




Ai Tư Văn
Lê Ngọc Hân
(1770-1799 )


Gió hiu hắt pḥng tiêu lạnh lẽo
Trước thềm lan, hoa héo ron ron.
Cầu Tiên khói tỏa đỉnh non,
Xe rồng thăm thẳm, bóng loan dàu dàu.
Nỗi lai lịch dễ hầu than thở
Trách nhân duyên mờ lỡ cớ sao ?
Sầu sầu, thảm thảm xiết bao...
Sầu đầy giạt bể, thảm cao ngất trời !

Từ cờ thắm trỏ vời cơi Bắc,
Nghĩa tôn phù vằng vặc bóng dương.
Rút dây vâng mệnh phụ hoàng,
Thuyền lan chèo quế thuận đường vu quy.
Trăm ngàn dặm quản chi non nước;
Chữ "nghi gia" mừng được phải duyên.
Sang yêu muôn đội ơn trên,
Rỡ ràng vẻ thúy, nối chen tiếng cầm.
Lượng che chở, vụng lầm nào kể.
Phận đinh ninh cặn kẽ mọi lời.
Dẫu rằng non nước biến dời,
Nguồn t́nh ắt chẳng chút vơi đâu là.
Ḷng đùm bọc thương hoa đoái cội,
Khắp tôn thân cùng đội ơn sang.
Miếu đường c̣n dấu chưng thường,
Tùng thu c̣n rậm mấy hàng xanh xanh.
Nhờ hồng phúc, đôi cành ḥe quế
Đượm hơi dương dây rễ cùng tươi
Non Nam lần chúc tuổi trời,
Dâng câu Thiên Bảo, bày lời Hoa Phong.

Những ao ước trập trùng tuổi hạc,
Nguyền trăm năm ngơ được vầy vui.
Nào hay sông cạn, bể vùi,
Ḷng trời giáo giở, vận người biệt ly.
Từ nắng hạ, mưa thu trái tiết,
Xót ḿnh rồng mỏi mệt chẳng yên.
Xiết bao kinh sợ, lo phiền,
Miếu thần đă đảo, thuốc tiên lại cầu.
Khắp mọi chốn đâu đâu t́m rước,
Phương pháp nào đổi được cùng chăng ?
Ngán thay, máy Tạo bất bằng,
Bóng mây thoắt đă ngất chừng xe loan.
Cuộc tụ, tán, bi, hoan kíp bấy,
Kể sum vầy đă mấy năm nay ?
Lênh đênh chút phận bèo mây,
Duyên kia đă vậy, thân này nương đâu ?
Trằn trọc luống đêm thâu, ngày tối,
Biết cậy ai dập nỗi bi thương ?
Trông mong luống những mơ màng,
Mơ hồ bằng mộng, bàng hoàng như say.
Khi trận gió hoa bay thấp thoáng,
Ngỡ hương trời băng băng c̣n đâu:
Vội vàng sửa áo lên chầu,
Thương ôi, quạnh quẽ trước lầu nhện giăng.
Khi bóng trăng, lá in lấp lánh,
Ngỡ tàn vàng nhớ cảnh ngự chơi.
Vội vàng dạo bước tới nơi,
Thương ơi, vắng vẻ giữa trời tuyết sa !
Tưởng phong thể xót xa đ̣i đoạn,
Mặt rồng sao cách gián lâu nay,
Có ai chốn ấy về đây,
Nguồn cơn xin ngỏ cho hay được đành ?
Nẻo u minh khéo chia đôi ngả,
Nghĩ đ̣i phen, nồng nă đ̣i phen.
Kiếp này chưa trọn chữ duyên,
Ước xin kiếp khác vẹn tuyền lửa hương.
Nghe trước có đấng vương Thang, Vơ,
Công nghiệp nhiều tuổi thọ thêm cao;
Mà nay áo vải cờ đào,
Giúp dân dựng nước xiết bao công tŕnh !
Nghe rành rành trước vua Nghiêu, Thuấn,
Công đức dày, ngự vận càng lâu;
Mà nay lượng cả, ơn sâu,
Móc mưa rưới khắp chín châu đượm nhuần.
Công dường ấy, mà nhân dường ấy,
Cơi thọ sao hẹp bấy hóa công ?
Rộng cho chuộc được tuổi rồng,
Đổi thân ắt hẳn bơ ḷng tôi ngươi.
Buồn thay nhẽ, sương rơi gió lọt,
Cảnh đ́u hiu, thánh thót châu sa.
Tưởng lời di chúc thiết tha,
Khóc nào nên tiếng, thức mà cũng mê.
Buồn thay nhẽ, xuân về hoa ở,
Mối sầu riêng ai gỡ cho xong,
Quyết liều mong vẹn chữ ṭng,
Trên rường nào ngại giữa ḍng nào e.
Con trứng nước thương v́ đôi chút,
Chữ t́nh thâm chưa thoát được đi,
Vậy nên nấn ná đ̣i khi,
H́nh tuy c̣n ở, phách th́ đă theo;
Theo buổi trước ngự đèo Bồng Đảo,
Theo buổi sau ngự nẻo sông Ngân,
Theo xa thôi lại theo gần,
Theo phen điện quế, theo lần nguồn hoa.
Đương theo bỗng tiếng gà sực tỉnh,
Đau đớn thay ấy cảnh chiêm bao !
Mơ màng thêm nỗi khát khao,
Ngọc kinh chốn ấy ngày nào tới nơi ?
Tưởng thôi lại bồi hồi trong dạ,
Nguyệt đồng sinh sao đă kíp phai ?
Xưa sao sớm hỏi khuya bày,
Nặng ḷng vàng đá, cạn lời tóc tơ.
Giờ sao bỗng thờ ơ lặng lẽ,
T́nh cô đơn, ai kẻ xét đâu ?
Xưa sao gang tấc gần chầu,
Trước sân phong nguyệt, trên lầu sính ca.
Giờ sao bỗng cách xa đôi cơi,
Tin hàn huyên khôn hỏi thăm nhanh.
Nửa cung gẫy phím cầm lành,
Nỗi con côi cút, nỗi ḿnh bơ vơ !
Nghĩ nông nỗi ngẩn ngơ đ̣i lúc,
Tiếng tử quy thêm giục ḷng thương.
Năo người thay, cảnh tiên hương,
Dạ thường quanh quất, mắt thường ngóng trông.
Trông mái đông: lá buồm xuôi ngược,
Thấy mênh mông những nước cùng mây,
Đông rồi th́ lại trông tây:
Thấy non cao ngất, thấy cây rườm rà.
Trông Nam thấy nhạn sa lác đác,
Trông bắc thời ngàn bạc màu sương.
Nọ trông trời đất bốn phương,
Cơi tiên khơi thẳm, biết đường nào đi.
Cậy ai có phép ǵ tới đó,
Dâng vật thường xin ngỏ ḷng trung,
Này gương là của Hán cung
Ơn trên xưa đă soi chung đ̣i ngày.
Duyên hảo hợp xót rày nên lẽ,
Bụng ai hoài vội ghẽ v́ đâu ?
Xin đưa gương ấy về chầu,
Ngơ soi cho tỏ gót đầu trông ơn.
Tưởng linh sảng nhơn nhơn c̣n dấu,
Nỗi sinh cơ có thấu cho không ?
Cung xanh đang tuổi ấu xung
Di mưu sao nỡ quên ḷng đoái thương ?
Gót lân chỉ mấy hàng lẫm chẫm
Đầu mũ mao, ḿnh tấm áo gai,
U ơ ra trước hương đài,
Tưởng quang cảnh ấy chua cay ḷng này.
Trong sáu viện ố đào, ủ liễu
Xác ve gầy, lỏng lẻo xiêm nghê
Long đong xa cách hương quê,
Mong theo: lầm lối, mong về: tủi duyên.
Dưới bệ ngọc hàng uyên ṿ vơ
Cất chân tay thương khó xiết chi.
Hang sâu nghe tiếng thương bi,
Kẻ sơ c̣n thế, huống ǵ người thân.
Cảnh ly biệt nhiều phần bát ngát,
Mạch sầu tuôn ai tát cho vơi ?
Càng trông càng một xa vời,
Tấc ḷng thảm thiết, chín trời biết chăng ?
Buồn trông trăng, trăng mờ thêm tủi,
Gương Hằng Nga đă bụi màu trong.
Nh́n gương càng thẹn tấm ḷng,
Thiên duyên lạnh lẽo, đêm đông biên hà.
Buồn xem hoa, hoa buồn thêm thẹn,
Cánh hải đường đă quyện giọt sương.
Trông chim càng dễ đoạn trường
Uyên ương chiếc bóng, phượng hoàng lẻ đôi.
Cảnh nào cũng ngùi ngùi cảnh ấy
Tiệc vui mừng c̣n thấy chi đâu ?
Phút giây băi bể nương dâu,
Cuộc đời là thế biết hầu nài sao ?
Chữ t́nh nghĩa trời cao, đất rộng,
Nỗi đoạn trường c̣n sống c̣n đau.
Mấy lời tâm sự trước sau,
Đôi vầng nhật nguyệt trên đầu chứng cho.



 

 

Theo chính sử Triều Nguyễn (Đại Nam Chính Biên Liệt Truyện = DNCBLT) và Việt Nam Sử Lược = VNSL của Trần Trọng Kim lại viết khác:


1- "mối duyên Nguyễn Huệ lấy Ngọc Hân Công Chúa là âm mưu của Nguyễn Hữu Chỉnh bàn với Chúa Trịnh Sâm": Điều này không thể xẩy ra v́ Trịnh Sâm đă chết từ tháng 9 năm nhâm dần (1782)(VNSL), trong khi Nguyễn Huệ ra Bắc diệt họ Trịnh vào năm 1786 (Trịnh Khải là vị chúa cuối cùng của Chúa Trịnh đă tự tử chết sau khi bị Nguyễn Trang bắt nộp cho Tây Sơn)(VNSL)


2- "Nguyễn Huệ không chịu giao quyền lại cho vua Lê, lại tự lên ngôi xưng là Bắc B́nh Vương". DNCBLT cho biết: "Nguyễn Nhạc phong Huệ làm Bắc B́nh Vương (Chúa đă dẹp yên đất Bắc). VNSL cũng cho biết: "Ở trong Nam th́ từ khi vua Tây Sơn là Nguyễn Nhạc về Quy Nhơn rồi, tự xưng làm Trung Ương Hoàng Đế, phong cho Nguyễn Lữ (em) làm Đông Định Vương ở đất Gia Định, cho Nguyễn Huệ làm Bắc B́nh Vương ở đất Thuận Hóa, lấy Hải Vân Sơn làm giới hạn".
 

VSinh

 

---

 

Vâng , chúa Trịnh Sâm chết ít lâu rồi Nguyễn Hữu Chỉnh mới "Cơng rắn cắn gà nhà " giúp Tây Sơn diệt chúa Trịnh . Em nhầm ở chỗ là Nguyễn Hữu Chỉnh âm mưu với Chúa Trịnh Cán ,chứ không phải Trịnh Sâm để Nguyễn Huệ kết hôn với Ngọc Hân !(Nếu em không lầm ) Anh có tài liệu nào nói về cuộc hôn nhân này không ? Có phải do Nguyễn Hữu Chỉnh mai mối hay tự hai người nên duyên vợ chồng ?

Anh c̣n có tài liệu nào nói về tại sao Trịnh Khải là con trưởng lên ngôi Thế Tử thay Cha là Trịnh Sâm , nhưng sau ngôi này lại rơi vào tay người em là Trịnh Cán khiến triều đ́nh chia ra hai phe xâu xé lẫn nhau không ? (Em không biết chỗ này có nhớ lầnm không )

Riêng việc ba anh em nhà Tây Sơn ,lư do v́ sao tự xưng vương , trong lúc vua Lê c̣n đó, có phải sau khi họ đă diệt xong đàng ngoài và đàng trong rồi phân quyền cho nhau phải không anh ?
Xin cám ơn anh !


SK

 

----

 

Đúng là "được lời như mở tấm ḷng". VS nhờ có viết một vở Kịch Thơ cho Ban Kịch Áo Tím Gia Long (Cũng sinh hoạt chung với CLB/HSV) tŕnh diễn, nên đă sưu tầm và có các tài liệu lư thú về cuộc t́nh vương giả của anh hùng Nguyễn Huệ với Giai nhân Ngọc Hân.
Xin trả lời vắn tắt mấy điều thắc mắc của SK:


1- "Nguyễn Hữu Chỉnh âm mưu với Chúa Trịnh Cán" Theo Việt Nam Sử Lược (VNSL) của Trần Trọng Kim th́ : "Trịnh Sâm say đắm nàng Đặng Thị Huệ bỏ con trưởng là Trịnh Khải mà lập người con của Đặng Thị là Trịnh Cán làm Thế tử. Từ đó người th́ theo Đặng Thị,người th́ pḥ Trịnh Khải, trong phủ chúa chia ra bè đảng ..."


Năm 1782 Trịnh Sâm mất, Trịnh Cán lên ngôi Chúa, được Huy Quận Công Hoàng Đ́nh Bảo phụ chính. V́ Trịnh Cán c̣n nhỏ tuổi, lại lắm bệnh, không mấy ai phục, do đó có loạn Kiêu binh (quân Tam Phủ) mưu với Trịnh Khải gíết Hoàng Đ́nh Bảo, bỏ Trịnh Cán và Đặng Thị Huệ và tôn Trịnh Khải lên ngôi Chúa. Như vậy, Nguyễn Hữu Chỉnh không thể âm mưu với chúa Trịnh Cán.


2- "Nguyễn Huệ kết duyên với Ngọc Hân Công Chúa có phải do Nguyễn Hũu Chỉnh mai mối? Đúng. Khi Nguyễn Huệ ra Bắc cùng với Nguyễn Hữu Chỉnh "diệt Trịnh phù Lê", Trịnh Khải bị bắt đă tự tử chết, chấm dứt Họ Trịnh.


Vua Lê Hiển Tông đón tiếp Nguyễn Huệ vào thành Thăng Long và phong cho Nguyễn Huệ làm Uy Quốc Công. Nguyễn Huệ tỏ vẻ bất b́nh nên Nguyễn Hữu Chỉnh đă làm mai mối để vua Lê gả con gái yêu là Ngọc Hân Công Chúa (tục gọi là Chúa Tiên vừa xinh đẹp, vừa tài giỏi)cho Nguyễn Huệ với ư định làm vui ḷng vị tướng quân anh hùng này.


3- "Có phải sau khi họ (anh em Tây Sơn) đă diệt xong đàng ngoài và đàng trong rồi chia quyền cho nhau?". Vâng, đúng như anh SK nhận xét, ba anh em Nguyễn Tây Sơn chia đất phân quyền sau khi họ đă tạm ổn định miền Nam và đánh tan họ Trịnh ở miền Bắc.
Theo Việt Nam Sử Lược (TTK): Sau khi Nguyễn Nhạc tiếp kiến vua Chiêu Thống từ Bắc trở về, đă coi Bắc Hà là một "nước" do vua Lê cai quản, nên tự xưng là Trung Ương Hoàng Đế, và phong tước Vương và chia đất cho các em như đă nói ở trên.


Theo DNCBLT, năm 1785 sau khi cầu cứu 20 vạn quân Xiêm sang đánh nước ta bị đại bại, Nguyễn Ánh lại chạy sang Xiêm trốn tránh. Đến mùa xuân 1789, vua Quang Trung đại thắng quân Thanh, Chính sử Tŕều Nguyễn (DNCBLT)cũng đă phải công nhận công thống nhất đất nước của nhà Tây Sơn như sau: "Vua Chiêu Thống cũng vội vă qua sông Nhị theo Tôn Sĩ Nghị lên phía Bắc. Do đó nhà Lê mất. Vua Quang Trung Nguyễn Huệ bèn gồm cả đất An Nam."


VS
 

Những tài liệu lịch sử xác minh ngày mất của Ngọc Hân Công Chúa, tức Bắc Cung Hoàng Hậu triều vua Quang Trung

Theo ông Nguyễn An Phong (Giai Phẩm Tây Sơn Đinh Sửu 1997), các tài liệu sau đây đă chứng minh ngày mất của công chúa Ngọc Hân:
1- Theo bản phả kư họ Nguyễn Ngọc ở làng Phù Ninh, huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh, đă ghi ngày chết của Ngọc Hân Công Chúa như sau: "Tốt vụ kỷ mùi niên, thập nhật nguyệt, sơ bát nhật". (chết vào ngày mùng 8 tháng 11 năm Kỷ Mùi nhằm ngày mùng 4 tháng 12 năm 1799).
2- Căn cứ vào 5 bài Văn Tế của Phan Huy Ích soạn vào năm Kỷ Mùi (1799)trong Dụ Am thi Tập, có những chứng cớ như sau:
- 1 bài soạn cho vua Cảnh Thịnh đứng tế, với đề là: "Kỷ Mùi đông nghĩ, ngự điện Vũ Hoàng Hậu". Bài văn tế này lời lẽ rất phù hợp với hoàn cảnh của Vũ Hoàng Hậu tức Ngọc Hân Công Chúa.
- 1 bài soạn cho các công chúa của vua Quang Trung đứng tế.
- 1 bài soạn cho bà thân sinh Hoàng Hậu là Từ Ninh Phù Cung đứng tế.
- 1 bài soạn cho các tôn thất nhà Lê đứng tế.
-1 bài soạn cho bà con bên ngoại của Hoàng Hậu ở Phù Ninh đứng tế.

Theo "Từ Điển Nhân Vật Lịch sử", Công Chúa Lê Thị Ngọc Hân là con gái thứ 21 của vua Lê Hiển Tông, và Phù Ninh Từ cung Nguyễn Thị Huyền, quê mẹ ở làng Phù Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Bà tục gọi là Chúa Tiên, người đă xinh đẹp lại có tài văn chương. Năm 15 tuổi (Bính Ngọ 1786) bà lấy chồng là Nguyên Súy Uy chinh phù vận Uy quốc công Nguyễn Huệ nhà Tây Sơn. Sau chồng lên ngôi (tức vua Quang Trung), bà được làm Bắc Cung Hoàng Hâu....Đến năm Kỷ Mùi 1799 bà mất, hưởng dương 28 tuổi. vua Cảnh Thịnh truy tôn miếu hiệu là Như Ư Trang thận Trinh nhất Vơ Hoàng Hậu.

Ngoài các chứng liệu ghi trên, Ông Nguyễn An Phong c̣n dẫn chứng thêm trong bức thư đề ngày 16 tháng 7 năm 1801 của Barizy như đă đề cập ở trên, và cho biết: "Ta thấy rằng khi Barizy đến tận nhà giam để kiểm nhận và xem mặt tất cả các hoàng tử và công chúa, quan lại và gia đ́nh của các quan lại cao cấp của Tây Sơn đă bị Nguyễn Ánh bắt tại Phú Xuân có rất nhiều phụ nữ nhưng tuyệt nhiên ta không thấy ghi có một Hoàng Hậu Ngọc Hân mà ông ta đă ghi là "công chúa Bắc Kỳ".

Nhận xét của Vương Sinh:
Về chứng liệu "lá thư của ông Barizy", theo nhận xét của VS, chúng ta không được đọc đầy đủ cả bức thư, nên cũng khó mà có ư kiến xác đáng, bởi v́ trích đoạn lá thư chỉ cho biết: "Nhà vua (Nguyễn Ánh) bảo tôi đi xem mặt các cô công chúa của kẻ tiếm vị (Quang Trung)...", nghĩa là ông Barizy mới chỉ đến thăm "pḥng giam" các cô công chúa con vua Quang Trung, chứ không đề cập tới các pḥng giam khác có giam giữ các bà vợ của Vua Quang Trung, của vua Cảnh Thịnh hoặc các bà vợ của các quan lớn triều đ́nh Tây Sơn.
Về chứng liệu "Dụ Am thi Tập" và 5 bài văn tế, VS cũng chưa được đọc và cũng không có tài liệu ǵ về các bài văn tế đó. Trong phần tiểu sử ông Phan Huy ích (Từ Điển Nhân Vật Lịch Sử Việt Nam - N.Q.Thắng & N.B.Thế), cũng không thấy ghi Dụ Am Thi Tập (?). Qúy anh chị nào có Dụ Am Thi Tập của Phan Huy Ích, xin cho biết, v́ tài liệu này sẽ chứng minh khá vững chắc về ngày mất của Bà Ngọc Hân.
Về Phả kư họ Nguyễn Ngọc ở làng Phù Ninh, đây cũng là một chứng liệu, nhưng phả kư này có phải của ḍng tộc họ Lê không? Chúng ta không biết.(Phả kư nêu ra thuộc họ Nguyễn Ngọc chứ không phải họ Lê).

Để kết luận, nghi vấn lịch sử về cái chết của vị công chúa tài danh Lê Ngọc Hân tuy chưa thực sự sáng tỏ v́ các tài liệu đời Tây Sơn đă bị vua nhà Nguyễn tiêu huỷ hết, nhưng chúng ta tạm bằng ḷng với các tài liệu do ông Nguyễn An Phong đă sưu tập được v́ phù hợp với tài liệu của "Từ Điển Nhân Vật Lịch Sử", nghĩa là Ngọc Hân Công Chúa sinh ngày 24 tháng 4 năm Canh Dần (22 tháng 5 năm 1770), và mất ngày mùng 8 tháng 11 năm Kỷ Mùi (4 tháng 12 năm 1799). Trong Lịch các vị Phụ nữ Truyền thuyết Việt Nam, chúng ta bằng ḷng với tiểu sử của Ngọc Hân Công chúa như trên vậy.


Vương Sinh

----

 

Việt Sử Tân Biên
Saigon1961
Phạm Văn Sơn
Quyển 4
Nhà xuất bản Đại Nam


Trang 33
Phụ Lục
Chúng tôi ghi chép ra đây một số tài-liệu bằng chữ Nho có bản dịch ra tiếng Nôm để minh chứng việc xảy ra là có thực, hoặc để độc giả dùng trong các sách văn học.
Trong thế hệ chúng ta, nhiều việc chinh chiến thường xảy ra, các sử liệu nay c̣n được coi là hiếm hoi và quư giá, vậy cho in vào đây xét ra không vô ích. Mong các bạn thông cảm.

Kỷ-mùi đông, nghĩ Ngự-điện Vũ Hoàng-hậu tang quốc âm văn” (mùa đông năm Kỷ-mùi (1799) nghĩ đỡ nhà vua bài văn quốc-âm để tế điện Vũ Hoàng-hậu):

“Than ôi!
Nguyệt in phách-quế, mái trường-thu (1) vừa giăi vẻ làu làu. –Sương ủ hồn hoa; miền thượng-uyển (2) chợt phai mùi thoảng-thoảng (3).
“Nẻo chân-du (4) quạnh-quẽ biết đâu t́m! -Niềm vĩnh-mộ (5) bâng-khuâng hằng trạnh tưởng!
----------------------
(1) Tên một cung, chỗ ở của Hoàng-hậu. Sau dùng để chỉ Hoàng-hậu: nói lập cung trường-thu cũng như nói lập Hoàng-hậu.
(2) Vườn hoa nhà Vua.
(3) Hai vế này ư nói: bà Ngọc-Hân được lập làm Hoàng-hậu mới ít lâu, đang rực rỡ như vầng trăng vằng vặc, th́ đóa thiên-hương bỗng tàn tạ (tức là bà chết), làm cho vườn ngự mất thơm!
(4) Chỗ đến chơi thật, chỉ chỗ người chết đến ở.
(5) Tấm ḷng tŕu mến lâu dài măi măi.



Trang 34
“Giọt ngân phái (1) câu nên (2)vẻ quí, duyên hảo-cầu (3) thêm giúp mối tu-tề (4). –Khúc Thư-châu (5) thổi (?) sánh tiếng ḥa, khuôn nội-tắc (6) đă gây nền nhân-nhượng (7).
“Rành rành bút đỏ (8) đua thơm,-Chói chói sách vàng (9) tỏ rạng.
“ Hồ Đỉnh (10) ngậm-ngùi cung nọ (11) sắp rắp (?) ch́m châu nát ngọc đă từng nguyền
Cung khôn (12) bận-bịu gối nao (13) ếp v́ (?) vun quế quén lan nên hăy gượng (14).
---------------------
(1) Giọt nước ở sông nhà trời. Ư nói bà Ngọc Hân là ḍng giống nhà vua họ Lê.
(2) Cũng như “gây nên”.
(3) Chữ trong thơ QUAN-THƯ ở kinh THI: cái duyên thục-nữ sánh đôi với quân-tử thật là đẹp đẽ.
(4) Tu-thân và tề-gia. Ư nói Vũ Hoành-hậu giúp Vũ Hoàng-đế trong việc nội trị.
(5) Khúc hát “Chim quan-thư ở băi sông” túc là thơ QUAN-THƯở đầu thiên QUỐC-PHONG trong khi THI tả nỗi vui-ḥa mà có riêng biệt.
(6) Khuôn mực người đàn bà theo đúng lễ nghi và đức-hạnh như đă nói trong thiên NỘI TẮC ở kinh LỄ.
(7) Một người có nhân làm cả nước dấy ḷng nhân, một người biết nhường làm cả nước có ḷng nhường.
(8) Do chữ “đồng quản” là “bút quản đỏ”. Người xưa cầm bút quản đỏ chép những chuyện phụ-nữ đáng để khuyên răn.
(9) Do chữ “kim sách” là sách phong các vị hậu, phi xưa.
(10) Do chữ “đỉnh hồ”. Trong sử kư PHONG THIỀN THƯ có chép: Vua Hoàng-đế đúc xong cái vạc (đỉnh) ở dưới núi Kinh-sơn th́ cỡ rồng lên tiên. Người sau gọi chỗ đó là Đỉnh hồ. Đời nhân dùng để chỉ cái chết của vua chúa.
(11) Do chữ “di cung. Vua chết rồi chỉ có cái cung để lại, khiến cho mọi người thấy cung mà ngậm ngùi. Ư nói vua Quang Trung đă mất.
(12) Quẻ Khôn tượng-trưng về đàn bà. “Cung Khôn” tức là Hoàng-hậu. Đây chỉ Vũ Hoàng-hậu.
(13) Vương –víu có mấy con nhỏ dưới gối.
(14) Hai vế này ư nói: khi vua Quang Trung mất đi, Vũ Hoàng-hậu khôn xiết bùi-ngùi đau đớn, những toan tự tử (ch́m châu là trầm ḿnh; nát ngọc là hủy hoại thân thể) để theo chồng, nhưng v́ dưới gối bà c̣n hai mụn con thơ, nên phải gượng gạo sống để chăm-nom nuôi nấng con (vun quế, quén lan) vậy.


Trang 35
“Tự xung linh (1) hay ǵn giữ hiếu tư (2), Vâng từ-đức (3) cũng thỏa vui vinh dưỡng (4).
“Nối tiên-chí (5)vậy dốc bề trí kính (6), dấu sân huyên đ̣i chốn xum vầy (7).
“Cảm mẫu-nghi (8) mà thay đổi thừa hoan (9), vẻ áo vi xưa kia mường tượng (10).
“Mong thẻ tiên trùng trập thêm cao (11)-Hiềm máy tạo so le khôn lượng (12).
“Sương nắng bấy chầy ngăn trướng thúy, băn khoăn cơn bữa ngọc, ḷ đan (13).-Gió mây xẩy phút lối xe loan, khơi diễn nẻo non Bồng, vườn Lăng (14)
---------------------
(1) Từ tuổi thơ-ấu
(2) Giữ ḷng hiếu-thảo, nhớ nghĩ đến cha đă mất.
(3) Được thừa thuận cái đức hiền-từ, ư nói được xum-vầy dưới gối Vũ Hoàng-hậu. Bà Ngọc-Hân tuy lấy lẽ vua Quang-Trung nhưng khi ngài lên ngôi th́ được lập làm Bắc-cung Hoàng-hậu ngang hàng với chính cung Hoàng-hậu Phạm-Thị, người Qui-nhơn, mẹ đẻ vua Cảnh-Thịnh. Bấy giờ vua Cảnh-Thịnh coi bà vào hàng “mẹ” nên bài văn tế này mới nói là “từ đức”, v́ theo lễ bà là thứ mẫu.
(4) Lấy cái quí hiển của người làm vua mà phụng-dưỡng, gọi là “vinh dưỡng”.
(5) Noi theo ư-chí của người trước, tứ Vũ Hoàng-đế.
(6) Làm cho đến nơi tấm ḷng hiếu kính.
(7) Do chữ kinh THI nói trong cỏ huyên (ta gọi là cây hoa liên), nơi bắc đường là chỗ mẹ ở, nên tha thường dùng “nhà huyên” hay “sân huyên” để chỉ mẹ. Ư nói nhiều con mừng được xum-vầy với Vũ Hoàng-hậu.
(8) Cảm phục cái khuôn phép của mẹ.
(9) Lần lượt đổi thay với các em mà chầu hầu mẹ, để làm mẹ vui.
(10) “Áo vi” là áo tế của Hoành-hậu. Ư nói phảng phất tưởng nhớ dến dung nghi Vũ Hoàng-hậu.
(11) Mong Vũ Hoàng-hậu được thêm tuổi thọ.
(12) Hiềm v́ cái cơ mầu tạo hóa xoay vần không lường trước được.
(13) “Trướng thúy” là chỗ đàn bà ở. “Bữa ngọc” là bữa cơm. “Ḷ đan” chỉ thang thuốc. Ư nói v́ sương nắng trái tiết bà nhuốm bệnh, ăn kém, thuốc uống không chuyển, làm cho vua Cảnh-Thịnh băn khoăn lo buồn…
(14) Phút chốc bà bỏ trần gian, tiêu dao ở non Bồng, vườn Lăng là chỗ cảnh tiên. Ư nói bà mất.

 

Trang 36
“Lệ theo t́nh, tṛn cuộc mấy cam (1).- Đức so thọ, lệch cân chưa đáng (2).
“Dầu ngự đoái di thể sữa măng vài chút, ḷng quyên linh (3) đành có vẻ vang thêm (4).
“Dầu ngự cảm cố khư (5) hương khói đ̣i châm (?), lệ ân tuất (6) vẫn c̣n nhuần gội xuống (7).
“Ấy tấc vuông hằng chăm một tín thành (8).- Ắt mảy chút cũng thấu lên tinh sảng (9).
“Ôi!
“Bóng quạnh nước mây, thoi đưa ngày tháng!
“Cḥi tiêu lan (10) dường ră rượi bên thềm (11)!- Dấu cư
-------------------

(1) “Lễ là nhân t́nh người mà đặt ra tiết văn”, nay làm lễ tế là do chút t́nh thương nhớ. Có làm được thế th́ đạo con mới tṛn và ḷng con mới yên.
(2) “Người có đức tất được thọ”. Bây giờ thứ bắc đồng cân: Vũ Hoàng-hậu là người có đức, thế mà kém thọ; thật không thăng bằng, không xứng đáng!
(3) Quyến luyến là yêu thương.
(4) Ư nói: mặc dầu Vũ Hoàng-hậu được đức tiên đế (tức vua Quang Trung) đoái thương yêu mến, sinh được vài mụn con hăy c̣n măng sữa thơ ngây, làm cho bà càng vẻ vang bề thế…
(5) Cái thành cũ. Chỉ nhà Lê đă mất.
(6) Triều Tây Sơn ban ơn cấp lộc cho những người trong họ Lê được củ ra để giữ tế-tự và coi lăng tẩm nhà Lê. Việc này được đặt thành một điều lệ, và lệ ấy đến đời Cảnh-Thịnh vẫn noi theo.
(7) Ư nói: mặc dầu nhờ Vũ Hoàng-đế, nhà Lê c̣n được tỏ đèn sáng hươngở nơi thành cũ, vẫn được nhuần-thấm trong ơn chu tuất một cách dồi dào.
(8) Tấc vuông, do chữ “phương thôn”, nghĩa là tấm ḷng. Ư nói: nhưng ḷng con bao giờ cũng vẫn một mực tín kính thành-thực đối với mẹ.
(9) Chắc ḷng này thế nào cũng thấu tới tinh-linh anh-sảng của mẹ.
(10) Chữ trong sách TUÂN-TỬ chỉ người được dân yêu như tiêu lan thơm tho.
(11) Ư nói: Vũ Hoàng-hậu như chồi tiêu-lan được dân ưa chuộng, nay đă tàn tạ ở trước thềm rồi!


Trang 37

vũ bỗng lạnh lùng dưới trướng (1):
“ Nguyện cũ hẳn nay lọn-vẹn (2), bên đan lăng quanh-quất mạch liên châu (4);- Khí thiêng ǵn (?)để dặc dài, trong Thanh miếu ngạt-ngào mùi quán sưởng (5).
“Rày nhân:
“Cách bánh liễu dư (6),-Bày hàng thể-trượng (7).
“Nh́n khâm-vệ (8) trạnh ngưng mỗi vẻ, đường u-hiển xa ĺa (8)!-Dâng điện-diên (9) gọi giăi mấy nhời, mối luân-thường sáng tỏ (10).
“Hỡi ôi! Cảm thay!”
---------------------

(1) Ngọc cư, ngọc vũ, đồ đeo làm trang sức của đàn bà xưa. Ư nói Vũ Hoàng-hậu mất, làm cho trong cung vắng-vẻ lạnh-lùng, tưởng nhớ đến dấu tích của bà lúc c̣n sống.
(2) Bà mất đi, cái ước nguyền “đồng sinh đổng tử” với Vũ Hoàng -đế chắc nay được trọn vẹn rồi.
(3) Cây mọc hai gốc liền nhau. Ư nói lăng bà ở bên lăng Vũ Hoàng-đế, mạch đất cảm thông, mọc cây liền gốc.
(4) Khí thiêng của bà c̣n măi lâu dài. Mùi rượu “sưởng” dùng để cúng tế bà ở nhà thanh miếu đời đời thơm nức . Ư nói tinh thần bất diệt và hương hỏa ngh́n thu.
(5) Nay nhân: xa cách chiếc xe chở linh cũu….
(6) ….và bày hàng nghi-trượng đưa đám…
(7) “Khâm” là cỗ xe trang sức bằng da; “vệ” là đồ nghi-trượng hộ-vệ.
(8) Cũng như nói “âm dương cách trở”.
(9) Dâng tiệc rượu đề làm lễ điện-tế.
(10) Làm bổ phận với mẹ cho “đạo thường” được tỏ rơ.


(c̣n tiếp)

tvb

----

sau khi chết bà Ngọc Hân được vua Cảnh Thịnh (Nguyễn Quang Toản) truy tôn miếu hiệu là "Như Ư Trang Thuận Trinh Nhất Vơ Hoàng hậu", khác với Vơ hoàng chính hậu là bà họ Phạm, vợ lớn của vua Quang Trung (mẹ ruột của vua Cảnh Thịnh), miếu hiệu là "Nhân cung Đoan Tĩnh Trinh thục Nhu thuần Vơ Hoàng chính hậu"


 

Chỉ căn cứ vào bài văn tế và thời gian soạn bài văn tế kể trên của Phan Huy Ích,cũng đă chứng tỏ ngày mất của Công Chúa Ngọc Hân (Bắc Cung Hoàng Hậu) là năm Kỷ Mùi (1799). Những câu truyện đồn đăi vua Gia Long lấy Ngọc Hân là hoàn toàn vô căn cứ. Có thể người ta lầm với công chúa Ngọc B́nh là em Ngọc Hân tức vợ vua Cảnh Thịnh Nguyễn Quang Toản. Theo tài liệu của ông Tôn Thất B́nh viết trong "Kể chuyện Chín Chúa - Mười Ba Vua Triều Nguyễn" (Nhà xuất bản Đà Nẵng), trang 48 nói về "Các Bà Phi của Gia Long", cho biết:
"Gia Long có hai bà Phi được phong làm Hoàng Hậu là Thừa Thiên Cao Hoàng hậu (mẹ của Hoàng tử Cảnh) và Thuận Thiên Cao Hoàng hậu (mẹ Minh Mạng); nhà vua c̣n sách phong cho bà Lê thị Ngọc B́nh (con vua Lê Hiển Tông, em Ngọc Hân Công Chúa) làm Đệ tam cung. Bà này sinh được hai hoàng tử là Quảng Oai Công và Thường Tín Quận Vương".
Được biết, Ngọc B́nh là vợ của vua Quang Toản. Sau khi Phú Xuân thất thủ, Nguyễn Ánh đă lấy Ngọc B́nh và phong làm Đệ tam cung. V́ Ngọc B́nh lấy 2 đời chồng đều làm vua, nên dân gian có câu ca dao:

"Số đâu có số lạ lùng"
"Con vua mà lấy hai chồng làm vua"


Càng lạ lùng hơn nữa, vua Gia Long và vua Quang Trung chính là hai anh em cột chèo, vua QT lấy cô chị (Ngọc Hân), được làm anh. C̣n vua GL lấy cô em, nên phải gọi vua QT là anh.
 

VS
 

-----

Anh Vương Sinh à,
Tất cả những chuyện anh nêu ra hoàn toàn phù hợp với những tài liệu tvb có. Định là sau khi dán lên hai bài văn tế Công Chúa Ngọc Hân (một cho vua Cảnh Thịnh, một cho Công Chúa Ngọc Bảo) th́ sẽ "post" bài viết (câu sau đây là được trích trong Việt Sử Tân Biên của ông Phạm Văn Sơn, quyển 4 trang 57):
…do ông “Việt Thường đưa ra trong bài “Les caprices du génie du mariage ou l’extreordinaire destinée de la Princess Ngọc Hân” (Những sự oái-oăm của Nguyệt-lăo hay là số kiếp ly-kỳ của Ngọc-Hân Công-chúa).
Bài này được đăng trong “Bulletin des Amis du Vieux Huế: (Đô-thành hiếu cổ) số 4 phát hành 1941.

Ông Phạm Văn Sơn ghi như trên, tuy nhiên ông đă không ghi lại toàn bài trong quyển sử này (đó là điều rất đúng, ai lại đăng nguyên bài báo trong quyển sử bao giờ ! Đúng không anh! ). Tvb cố đi t́m, may sao dùng “Google search” th́ thấy có bài sau dù người đăng không nói rơ xuất xứ, nhưng tv đoán đây là bài của ông Việt Thường (xin đọc bên dưới).
Bài này đă gây nên nghi vấn và hợp với câu ca dao anh viết trên.
Một nghi vấn nữa được nói tới trong bài “Công Chúa Đông Đô, Hoàng Hậu Phú Xuân nàng là ai” của ông Minh Vũ Hồ Văn Châm trong Giai Phẩm Tây Sơn Mậu Dần 1998. Tác giả đưa ra vấn đề là trong cuốn “Hoàng Triều Ngọc Phả , bản quốc ngữ, do Tôn Nhân Phủ biên soạn và ấn hành dưới triều Thành Thái” viết là Quảng Oai Công và Thường Tín Quận Vương con vua Long có mẹ đẻ là Ngọc Hân Công Chúa mà chính mắt tác giả được xem. Ông Minh Vũ có giải thích là sự chủ quan của người dịch đă gây nên nghi vấn. V́ trong bản Hán văn chỉ ghi là Lê Ngọc, v́ sự chủ quan (và có lẽ không t́m hiểu vấn đề một cách rơ ràng ) đă hạ bút thêm chữ Hân thay v́ chữ B́nh sau chữ Lê Ngọc.
Tvb có ư định viết một bài về nghi vấn này khi thấy các anh chị bàn về Công Chúa Ngọc Hân, tuy nhiên bận rộn quá nên chưa làm. Thôi th́ xin góp lên đây được tí nào hay tí đó.
C̣n thiển ư của tvb là Công Chúa Ngọc Hân qua đời năm 1799 khi triều Tây Sơn chưa mất. Hai con là Văn Đức và Ngọc Bảo đă bị giết năm 1801 khi Nguyễn Vương Ánh đánh úp Phú Xuân .
Sau đây là bài đăng trong Đặc Trưng :
http://dactrung.com/forum/topic.asp?ARCHIVE=&TOPIC_ID=5727

Author Topic
Nguyen Cong Tanh
Lều Tranh

Australia
30 Posts
Posted - Aug 07 2002 : 07:48:37 AM
--------------------------------------------------------------------------------

Cách đây hơn 60 năm (1941), một bài viết về Công Chúa Ngọc Hân như sau: (tài liệu về bài viết nầy vẫn c̣n được lưu giữ rất rơ ràng).
" Từ trong số những khung gỗ chạm trỗ sơn son thếp vàng dùng để trang trí cho các cung, miếu ở cố đô Huế, người ta có thể t́m thấy h́nh bóng, tiếng vang của thời xa xưa. Nh́n thấy các tác phẩm chạm trỗ nầy người ta có thể hồi nhớ lại chuyện t́nh tay ba giữa Ngọc Hân, Quang Trung và Gia Long.
Sau khi đă đánh đuổi quân Xiêm ra khỏi Gia Định (trận Rạch Gầm-X̣ai Mút), Nguyễn Văn Huệ vẫn phải đeo đuổi, kéo dài,một cuộc chiến tranh không nhân nhượng, không ngơi nghỉ với Nguyễn Phúc Ánh. Yếu thế trước một đội hùng binh uy mănh, Ánh phải đào thóat sang nước Xiêm La (nay là Thái Lan) để phục hồi và tổ chức lại đ̣an quân của ḿnh chờ ngày trở về chiếm lại đất Gia Định.
Trong thời gian đó, đ̣an quân của Huệ liên tục đi từ chiến thắng nầy đến chiến thắng khác, uy danh của Huệ vang lừng khắp nơi . Rồi, dưới chiêu bài phù Lê diệt Trịnh, Huệ cùng với hàng tướng Nguyễn Hữu Chỉnh đem quân tiến chiếm Vị Ḥang, hạ thành Sơn Nam rồi thẳng tiến vào Thăng Long . Huệ đ̣i ḥang đế Lê Hiển Tông phải đăng triều tiếp đón Huệ. Lê Hiễn Tông dù đang mắc bệnh cũng phải gượng gạo gặp Huệ. Trong cuộc gặp mặt nầy, Huệ đă đem lời dịu ngọt để trấn an Lê Hiển Tông. Để tỏ ḷng biết ơn, Lê Hiển Tông phong cho Huệ chức Nguyên Sóai Phụ Chính Dực-Vơ Úy-Quốc Công và gả con gái là Công chúa Ngọc Hân cho Huê.
Dù là một danh tướng gan ĺ, lạnh lùng và nghiêm khắc nhưng khi đối diện với một nữ lưu vương giả sắc nước hương trời như Ngọc Hân, Huệ cũng phải trở thành bẻ lẽn e dè và thờ thẫn . Huệ tự cho rằng ḿnh xứng đáng được hưởng phần thưởng xinh đẹp kia và hănh diện có được một người vợ thuộc hàng quư tộc cao sang tột bực.
Trong khi dân t́nh miền Bắc đua nhau đi xem lễ cưới của Huệ và Ngọc Hân th́ nơi một phương trời xa, ở thủ đô Bangkok, kẻ lưu vong Nguyễn Phúc Ánh đang hướng mắt mơi ṃn trông chờ những kẻ từ hướng Tây trở về: Ánh mong tin đi cầu viện vua nước Pháp của Giáo sĩ Giám Mục Bá Đa Lộc và ḥang tử Nguyễn Phúc Cảnh.
Sau những chiến tích vang dội và oanh liệt, Nguyễn Văn Huệ tự xưng, lên ngôi ḥang đế (1788), lấy niên hiệu là Quang Trung, phong cho Ngọc Hân làm ḥang hậu. Tuy nhiên chiến thắng oai hùng và t́nh yêu hạnh phúc của Huệ thật ngắn ngủi, triều đại Quang Trung sáng lạng giữa đường đứt đoan. Năm Nhâm Tỵ (1792) một cơn bệnh đột phát khiến cho Huệ qua đời, bỏ lại bao dự tính chọc trời khuấy nước làm rung chuyển kinh ḥang đám giặc nhà Thanh, bỏ lại người đẹp mỷ nhân ngọc ngà .
Ngọc Hân trở thanh một bà Ḥang sầu muộn, cô đơn, tự giam nhốt ḿnh trong cung thất lạnh lùng, tự trách cho số phận hẩm hiu và nhất là tiếc thương,than khóc nhớ người chồng quân vương yểu số mang theo trái tim và h́nh sắc của bà xuống đáy mồ, âm dương cách biệt.
Nguyễn Quang Tỏan con trai trưởng của Huệ, cháu của Bùi Đắc Tuyên kế vị ngôi ḥang đế . Tỏan c̣n nhỏ, quyền hành triều chính ở trong tay Bùi Đắc Tuyên. Tuyên mặc sức chuyên quyền, triều ca phân tán, đ́nh thần giết hại lẫn nhau, nội bộ Tây Sơn chia rẽ, dân t́nh lêu bêu, bất ổn, óan than khắp cùng, mắt trông hướng về phương Nam để cầu trời khấn Phật "Lại trời mau tới gió Nam, Để cho chúa Nguyễn giăng bườm Bắc chinh". Bề tôi trung thần cũ của Tây Sơn đều chán chường sẵn sàng về với Nguyễn Phúc Ánh .
Lợi dụng t́nh thế chia rẽ và lọan lạc trong nội bộ của Tây Sơn, Nguyễn Phúc Ánh tấn công Phú Xuân (1801). Quang Tỏan bỏ rơi Ngọc Hân để một ḿnh chạy trốn ra Bắc Thành. Triều Tây Sơn đă tới thời suy thóai .
Tin quân Tây Sơn thất trận, vua Cảnh Thịnh bỏ kinh thành đưa tới như sét đánh ngang mài khiến cho Ngọc Hân bấn lọan tâm cang. Bà đă bị bỏ rơi lại trong bàn tay sinh sát của giặc Gia Định.
Vào một đêm không trăng, dươi ánh đèn mờ ảo trong vương cung, Ngọc Hân chợt nh́n thấy một bóng người vậm vỡ uy vệ đang ung dung tiến bước về phía Bà đang ngồi rồi tỏ hiệu chào hỏi . Ngọc Hân run sợ v́ sự có mặt của người lạ, bà bạo gan lớn tiếng:
_Này tên giặc Gia Định kia, hăy dừng bước! Nhà ngươi muốn gỉ ?
Người lạ mỉm cười:
-Ta chẳng muốn ǵ cả, người đừng sợ. Giặc Gia Định cũng là con người phàm tục nhưng lại là một con người nhân hậu và có t́nh có nghĩa hơn là bọn giặc Tây Sơn.
Ngọc Hân trố mắt nghẹn lời.
- Dù thế nào đi chăng nữa th́ cung điện nầy vẫn luôn luôn là cung điệncủa nương tử.
Ngọc Hân run rẩy đáp lời:
-Nơi đây đă trở thành một lănh cung, một nhà tù chung thân đối với ta !
Nói xong, Ngọc Hân khóc rắm rức . Nỗi đau khổ cùng cực khiến cho Bà không biết sợ chết mà lại c̣n là tăng thêm nét diễm kiều của Bà khiến cho tướng giặc phải run động và bồi hồi trong dạ. Thông cảm với nổi đau của người cô phụ, tướng giặc chỉ c̣n biết thốt lên một vài lời an ủi vu vơ rồi yên lặng rút lui .
Sau một đêm dài trăn trở, Ngọc Hân như kiệt lực. Nghe tiếng chim hót ng̣ai sân, Bà tưởng chừng như ḿnh đang nghe tiếng ḥ reo xung phong phá thành của giặc Gia Định .Thân xác ră rời, Bà không buồn trang điểm phấn son .
Rồi bất chợt, một người đàn ông uy nghi trong bộ chiến phục vương giả đang rảo bước về hướng bà đang ngồi .Bà nhận diện ra ngay đó là tên giặc Gia Định đêm qua . Người đó là Nguyễn vương Phúc Ánh. Bà khép nép đứng lên nói lời tạ lỗi v́ sự xúc phạm trịch thượng của bà hôm qua . Nguyễn vương mỉm cười và hỏ:
- Đêm qua nương tử có được an giấc không ?
-Khải tấu vương thượng, cả đêm thần thiếp không được một giây chợp mắt! Thần thiếp e sợ rằng định mệnh ác nghiệt sẽ không tha cho thần thiếp!
-Nương tử là một bậc ḥang hậu can trường! Người hăy an tâm . Dù cho vật đổi sao vời, đất nước nầy sẽ không bao giờ thay đổi, nương tử đừng lo sợ và cất đi sự sầu bi để vui vầy trong cuộc sống mới. Từ nay, người vẫn là chủ nhân của cung điện nầy.
- Nhưng, khải tâu chúa thượng tiện thiếp chỉ là . .
Nguyễn vương cắt ngang:
-Ư ta đă quyết, nương tử hăy nghe theo lời ta . . .


*

Trong một buổi đại triều, Đại Giám Quân Lê Văn Duyệt tŕnh tấu với Nguyễn vương :
-Chúng ta đă chiến thắng, nhưng kẻ thù ng̣ai kia vẫn chưa bị tiêu diệt. Cuối xin chúa thượng chớ có quỵ lụy v́ người đàn bà đó mà làm hỏng đại sự tạo dựng đế nghiệp mà tiên đế và chúa thượng từng đeo đuổi từ bấy lâu nay . Người đàn bà đó dù nhan sắc có chim sa cá lặn thế mấy chăng nữa th́ chẳng qua cũng vẫn là thê thiếp của kẻ đại thù . Giai nhân nhan nhản khắp nơi, chúa thượng cần ǵ phải hạ uy danh của ḿnh để rơI vào lụy t́nh với người đàn bà đó .
Nguyễn vương mỉm cười, thái độ ung dung:
-Suốt 24 năm dài chinh chiến, các người có thấy ta buông lơi bổn phận lần nào chưa ? C̣n mỹ nhân th́ không thiếu nhưng đă có mấy ai lung lạc được ta ? Nương tử Ngọc Hân là thê thiếp của giặc, đó là một lối kêu gọi tàn nhẫn và ác độc. Người nữ lưu nầy cũng như những bậc nữ lưu khác, nhưng người nầy là một nữ lưu can trường không sợ chết trước mặt kẻ thù, một nữ lưu dễ yêu và đáng kính trọng, độc nhất vô nhị, mà ta chưa bao giờ gặp trước đây. T́nh yêu và nhiệm vụ ta không bao giờ lẫn lộn. Chí hướng của ta không thể bị lu mờ v́ mỹ nhân rù quến . Tiền đồ, sự nghiệp không ngăn cản ta có t́nh, có nghĩa và ta chắc rằng các ngươi và triều đ́nh cũng không có ǵ gọi là trầm trọng mà làm hẹp ư ta .
Trước thái độ cương quyết của Nguyễ vương Phúc Ánh, triều thần phải nghe theo . Ngọc Hân lại t́m được một người t́nh mới, bỏ trôi đi quá khứ của một bà Ḥang sầu muộn.

*
Năm 1802, Nguyễn vương Phúc Ánh đặt niên hiệu mới là Gia Long trước khi đem quân ra giải phóng Bắc Hà . Sau khi thống nhất đất nước, Nguyễn vương trở về Phú Xuân, xưng đế hiệu Gia Long, xây dựng cung thành.
Ngày trước, lúc c̣n sinh tiền, Ḥang đế Lê Hiển Tông đă mướn các nghệ nhân Trung Quốc chạm trỗ nhiều bức ḥanh bằng gỗ quư sơn son thếp vàng để trang trí cung thành ở Thăng Long . Các bức ḥanh đó chỉ được gửi sang Đại Việt sau ngày qua đời của Lê Hiển Tông, chưa dùng tới, để rồi ngày nay được Gia Long cho đưa về kinh đô Phú Xuân trang trí điện Cần Chánh để làm đẹp ḷng Ngọc Hân.
Ngày nay, ngắm nh́n những khung ḥanh chạm trỗ ở điện cần Chánh, khách thưởng ngọan có thể nhớ về chuyện t́nh của Công chúa Ngọc Hân và có thể khoan khóai mỉm cười cho một kết cục hạnh phúc.
Thế nhưng, nếu ai có đi ngang qua ngôi miếu thờ xiu vẹo đổ nát của Quảng Oai Quận Công và Thường Tín Quận Vương th́ ngươi ta phải bàng ḥang chua xót. Tại sao ? bởi v́ hai vị tiền nhân nầy là hai người con trai của Ḥang đế Gia Long và Công Chúa Ngọc Hân !

Paul

--------------------------------------------------------------------------------
Edited by - Nguyen Cong Tanh on Aug 12 2002 11:22:11 PM

 

---

Anh TVB ơi! Rơ ràng bài viết của ông Phạm Việt Thường đăng trong tập san "Đô Thành hiếu cổ" mang nhiều tính tiểu thuyết hơn là biên khảo về lịch sử. Chỉ tội cho nàng Ngọc Hân, đă chết rỗi vẫn c̣n hệ lụy với đời sau.
Xin anh khi nào rảnh rỗi, viết lại nghi vấn này, và dùng "Dụ Am thi Tập" cùng với" "Đại Nam Chính biên liệt truyện", một quyển chính sử triều Nguyễn để chứng minh Bà Ngọc Hân đă mất trước khi Gia Long chiếm Phú xuân.
VS

 

---

Vâng, thưa anh đúng lắm, bài viết của ông Việt Thường đúng là có tính cách tiểu thuyết dă sử nhiều hơn là tham khảo . Trong bài này, ông VT đă lầm lẫn giữa tên Công Chúa Ngọc Hân và Ngọc B́nh .
Đoạn giữa, từ câu: "Trong t́nh thế ......" tới hết bài , nếu ông ấy chỉ thay chữ "Hân" bằng chữ "B́nh" th́ câu chuyện lại rất giống với chuyện xảy ra trong sử .
Thôi, tvb xin gởi tiếp hai bài văn tế Công Chúa Ngọc Hân lên đă . Sẽ bàn thêm sau .
 

“Kỷ-mùi đông, nghĩ Ngự-điện Vũ Hoàng-hậu tang quốc âm văn” (mùa đông năm Kỷ-mùi (1799) nghĩ đỡ nhà vua bài văn quốc-âm để tế điện Vũ Hoàng-hậu):
(Tiếp Theo)

Trang 38

“ Nhật hiểu Qui-nhơn phủ: Quan, Quân, Dân thứ đẳng tri:

“Tướng vâng quyền chế ngoại (1) dẹp lửa binh mà trợ (giúp) lấy dân lành.- Người sẵn tính giáng trung (2) , cởi lưới ngược lại noi về đường thuận.

“Mấy lời cặn kẽ, - Đ̣i chốn sum vầy.

“Quư phủ ta: cội gốc nền vương.- Rậu phên nhà nước.

“Miền thang mộc (3) vốn đúc non gây (?) bể, mở mang bờ cơi từ đây (4).- Hội phong vân (5) từng d́u phượng vin rồng, ghi tạc thẻ quyên (6) đành dơi để.

“Dấu cờ nghĩa đă sáng công dực vận (7),- Buổi xe nhung thêm dong sức cần vương.

“Mấy phen gió bụi nhọc con ḍng (8), giúp oai vơ cũng đều nhờ đất cũ,- Ba huyện đá vàng bền tấc dạ, căm cừu thù chi để đội trời chung.

“Tiệc ca phong (9) chầm nhạn vừa yên,- Vời tĩnh hải tăm ḱnh lại động (10).

-----------------------------

(1) Ông tướng vâng mệnh vua cầm binh ở ngoài biên cương.
(2) Người ta sinh ra được. Trời phú -bẩm cho ḷng biết giữ đạo thường.
(3) Do chữ “thang mộc ấp” mà ra. Nguyên xưa theo chế độ phong kiến, thiên-tử cho chư -hầu ấp thang mộc (ngĩa đen: tắm gội) khiến chư-hầu lấy lại sự thanh sạch cho ḿnh. Sau dùng rộng ra, “thang mộc” là chỗ phát tích của đế vương.
(4) Chỉ về vua Thái-Đức và vua Quang-Trung ban đầu đều dấy lên từ Qui –Nhơn.
(5) Hội gió mây gặp gỡ. Do chữ trong kinh Dịch: “ vân ṭng ḷng, phong ṭnh hổ” (mây gặp rồng, gió gặp hổ). Ư nói tao-phùbg đẹp hội, chính là dịp tốt để tài trai bay nhảy.
(6) Do chữ “danh thủy giản bạch” mà ra. Nghĩa là tên được ghi vào thẻ tre, mặt lụa (v́ chưa có giấy viết(để tiếng thơm về sau.
(7) Công tôn-pḥ giúp đỡ nhà vua.
(8) Cái giáo lưỡi nhọn.
(9) Do điển vua Hán-Cao khi qua ấp Bái (hay là Bái huyện thuộc Giang-Tô bên Tàu), đặt tiệc, gơ nhịp, hát bài Đại-phong. Ư nói Tây-Sơn vừ mới mừng cuộc thành-công ở Qui-nhơn là chỗ quê nhà.
(10) Cá ḱnh là tượng trưng về biến loạn giặc giă.



Trang 39

“Đoàn ngoại vũ lung-lăng quen thói, nương thế đèo, đến Bến Đá chia ngăn (10),- Kẻ khổn ư (2) dáo-dở nên ḷng, phụ ơn nước, chốn thành vàng phút bỏ (3) !

“Nơi trọng địa xảy nên gai góc,- Lũ lương gia (4) lây phải lầm than (7).

“Giận v́ địch thế hăi buông tuồng (8),- Xót đến dân t́nh càng áy náy !

“Trong một cơi, nỗi hoành-ly là thế, đầu tên trước đạn, nghĩ cỏ cây âu đă đổi màu xưa,- Trên chín lần, niềm trắc ẩn dường bao, sớm áo, đêm cơm (9), mong đệm chiếu lại cùng êm nếp cũ (10).

“Chước điễn khấn ngửa vàng tiếng ngọc (11),- Việc đổng nhung xa chỉ ngọn đào (12)

------------------
(1) V́ bấy giờ thành Qui-nhơn thất thủ, có quân Cựu-Nguyễn đóng án ngữ, nên đường lối từ đèo Bến Đá dến Qui-Nhơn không liên lạc với nhau được.
(2) Kẻ giữ đất đai cửa ngơ một nước.
(3) Chỉ việc Bảo đem thành Qui-nhơn xuống hàng Cựu-Nguyễn.
(4) V́ bắt ép mà phải gượng theo.
(5) Lời khua giục dụ-dỗ.
(6) Phàn nàn, than thở.
(7) Chỉ bên Cựu-Nguyễn vẫn c̣n tung hoành.
(8) Nông nổi sa mắc vào ḷng đau khổ.
(9) Do chữ “tiêy y, cán thực” mà ra. Ư nói gặp lúc quốc-gia đa sự, nhà vua (chín lần: cửu trùng) bao xiết thương xót nhân dân. Nhà vua v́ bận rộn quá, sớm đă phải thay áo, đêm mới được ăn cơm.
(10) Mong nhân dân được đặt êm trên đệm chiếu (do chữ “nhẫm tịch”) êm ấm như thuở trước.
(11) Trên vâng lời vua phán dạy, lo tính mưu chước dẹp giặc.
(12) Coi giữ việc binh, thẳng trỏ ngọn cờ đào.



Trang 40

“Bản tước nay (1): chịu mang đền phong (2).- Buông oai dinh liễu (3).

“Thế phân đạo gấu giồ (?) hùm thét, suối rừng pha (?) đồn lũy đă tan tành,- Cảnh sơ xuân (4) hoa rước oanh chào, đất nước thấy quan quân hớn hở.

“Súy mạc vốn quyết bài tất thắng (5).- Tông thành âu hẹn buổi phục thù.
Ngẫm chúng t́nh (6) đà quải-cách bấy lâu, sự biến ấy hoặc có người nghi cụ (7);- Vậy tướng lịnh phải đinh-ninh đ̣i nhẽ, thân-cố ta biết nảo ṭng, vi (8).

“Nghiệm cơ giời đành thu góp về nhân,- Vâng ngôi thánh lấy chở che làm lượng.

“Bao nhiêu kẻ trót theo đảng dữ, như đă thích mê hồi thiện (9), th́ đều noi chức-nghiệp cũ cho yên.- Hoặc mấy người riêng lắm (?) chi cao, mà nay nỗ lực lập công, ắt lại chịu ân thưởng nay càng hậu.

“ Dầu trước có hà-tỳ (10), nào xá trách.- Ai sớm hay hối ngộ (11) thảy đều dung.

----------------------------

(1) Chỉ Trần-quang-Diệu.
(2) Do điển: trong cung nhà Hán trồng nhiều cây phong: nên về sau, người ta dùng chữ “đền phong” để chỉ triều đ́nh.
(3) Do điển: Chu-á-Phu đời hán làm tướng đóng quân doanh ở Tế-liễu. Nhân thế đời sau dùng “trướng liễu” hay “dinh liễu” để chỉ chỗ quân doanh.
(4) Quân Diệu tiến vào Qui-nhơn, bấy giờ nhằm buổi đầu xuân.
(5) Ông tướng ở nơi màn trướng (ngày xưa, khi hành binh, viên chủ súy cùng các tướng tham mưu thường vây màn để bàb bạc quân sự, nên gọi là “súy mạc”).
(6) Cũng như nói “Ḷng người, ḷng dân”.
(7) Ngờ, sợ.
(8) Ta cho kẻ thân t́nh, ngưới cố cựu biết rằng có hai đường đây: theo đàng nào, tránh đàng nào th́ chọn đi.
(9) Bỏ điều mê man, quay về đường thiện.
(10) Dấu vết không lành.
(11) Biết tỉnh-ngộ ăn-năn lỗi trước


Trang 41

“Hội thanh-ninh (1) đành trên dưới đều vui,- Người Bái quận (2),,, (thiếu một chữ) móc mưa hiệp sái (3).

“Phương tị tựu ví kiếp chầy chưa tỏ (4),- Thủa Côn-cương ngọc đá khôn chia (5).

“Nghĩa cả mà nhầm,- Ḷng ngay xá giữ.

“ Nay hiểu” (6).
-----------------------------

(1) Vận hội thái-b́nh.
(2) Bái-quận nguyên là nơi quê-hương của Hác-Cao-Tổ. sau dùng rộng ra là nơi rau rốn của một đế-vương. Người “Bái-quận”, đây chỉ người Qui-nhơn, chỗ qur6 quán Tây-Sơn.
(3) Rẫy ơn huệ khắp cả mọi người.
(4) Nếu không sớm muộn biết chọn lấy đường tránh dữ theo lành th́…
(5) … Khí người ta nổi giận, thẳng tay trừng trị, bấy giờ các ngươi sẽ như t́nh-cảnh núi Côn-sơn bị thiêu: không cứ ngọc hay đá, thảy đều cháy rụi hết.
(6) Phiên-âm theo bản chữ nôm trong DỤ-ÂM VĂN-TẬP, quyển 5, tờ 13a, 14b và có so sánh với bản sao-lục, trong QUANG-TRUNG, tập hai, của H.B.H.T.T., trang 284-292.

Trang 41 (tiếp theo)

CÔNG CHÚA CHƯ NHA ĐIỆN VĂN

(Đọc trong dịp tang Vũ Hoàng-hậu năm Kỷ -mùi 1799)


Than ôi! Đóa thượng-uyển hây hây đua nở (7), giọt sương ngưng mà hiu-hắt màu hoa (8)! vầng thái-âm (9) vằng vặc sáng ḷa, hơi vụ ngất dễ mịt mờ bóng quế (10)!

“Nhẽ đổi thay máy Tạo khôn ḍ,- Cơn tan hợp đoạn t́nh kể xiết!
Nẻo thuở Doành Hoàng phô vẻ, trau vàng chuốt ngọc vẹn

------------------------------

(7) Đóa hoa trong vườn ngự đang mơn mởn đua tươi.
(8) Mà nay v́ sương lạnh đọng lại, làm cho sắc hoa héo hắt điêu tàn.
(9) Mặt trăng tượng trưng về hập phi.
(10) Thuyết cũ cho rằng trong mặt trăng có cây quế, nên xưa ta dùng “bóng quế” đển chỉ về trăng. Câu này có ư nói vầng trăng đang sáng bỗng có mây mù che khuất làm cho mờ đi, ví với cảnh Vũ Hoàng-hậu đang đẹp đẽ, bỗng cái chết làm cho tan tác đau buồn.



Trang 42

mười phân (1). Trải phen bến Vị đưa duyên (2), phím sắt soang cầm vầy một thể (3).
Trên tuyền-đ́nh d́u dặt thói hoà (4),- trong quế dịch đầm hâm hơi thụy (5).
Bóng cù-mộc sêng-sang tán đẹp, phận dựa leo đều vui chốn nương nhờ (6); -Đóa phương lan đua ruổi màu tươi, t́nh vun quén cũng có phần xan -xẻ (7).
Hương nồng phấn đượm những nâng-niu,- Ngọc thuyết hoa chào cùng hủ-hỉ (8)
Bông đào nở (?) mừng duyên nghi thất (9), buổi qui ninh vâng đôi nhẽ dặn ḍ (10);- Giá ngọc trong khuyên nét sạ b́nh, lượt kiều dưỡng được mọi bề cặn kẽ (11).
So đấng trên, âu sánh chữ cù-lao (12);- Ǵn sách trước đă sáng gương tề-mỵ (13).

-------------------------

(1) “Doành Hoàng” là sông Ngân-hoàng, tức sông Thiên-hà. Nghĩa bóng nói bà Ngọc-hân là con gái vua Lê, ratừ ḍng dơi nhà Trời. Nhờ từ thuở bé, tấm thân vàng ngọc ấy được trau chuốt hoàn toàn.
(2) Sau khi kết duyên với đức lệnh Nguyễn-Huệ, bà Ngọc Hân được bà con nhà Lê tiễn đưa tận bến Vị-hoàng ở trấn Sơn-nam (nay là nam-định) để bà về nhà chồng ở Nam-hà.
(3) Trong khi sánh duyên với vua Quang-Trung, th́ đ5o vợ chồng vui vầy như tiếng đàn cầm, đàn sắt rất là ḥa nhịp.
(4) “Tuyền đ́nh” chỉ nơi cung đ́nh nhà vua trang hoàng bằng thứ ngọc tuyền tốt đẹp. Ư nói cung thất có cái lề thói ḥa vui.
(5) “Quế dịch” cũng như quế cung, là cái cung thất đẹp đẽ. Ư nói trong cung đầm ấm những hơi tốt lành.
(6) Trong kinh Thi có thơ Cù-mộc, trong nói bà Hậu-phi có hiền đức ví như cây cù-mộc rườm rà, tốt tươi che chở cho những cây sắn dây, là thứ cây leo nương tựa ở đấy.
(7) “Phương lan” chỉ các con cháu. Ư nói nhờ bà Ngọc-hân chăm nom săn sóc con cháu như những cây lan thơm đều được chia xẻ ơn trạch.
(8) Ư hai câu này nói: Các con cháu đều được bà nâng niu như hương hoa. Trong nhà ấm cúng những câu nói tiếng cười vui vẻ.
(9) Lấy điển trong thơ “Đào yêu” ở kinh Thi nói người con gái được cập thời mà thành gia thất.
(10) Những con gái đă ở riêng, khi về nhà thăm cha mẹ, đều được nhờ bà dạy dỗ cho.
(11) C̣n con gái nào hăy c̣n bé, đợi kén chồng th́ cũng được bà nâng niu cẩn thận.
(12) Chín chữ cù lao của cha sinh mẹ dưỡng, so sánh với trời là bề trên, thật là cao cả to tát.
(13) Khi cha mẹ song toàn, con cái thật được vui vẻ như trong sách xưa đă chép.


Trang 43

“ Những ước thêm dao thẻ hạc, xôn xao tiệc thọ, ngẫu dâng thơm (1);- Bao giờ kịp ruổi xe loan, man mác cung xuân hoa chịu tẻ (2).

“Âm dương chia hai ngả luống phiền (3)!-Chung thủy cẩn một niềm dám trễ (4).

“Dầu gót ngọc vui miền tịnh độ, nỡ nào quên hai chồi lan quế c̣n thơ (5), dầu xiêm nghê vắng cảnh thanh-đô, nỡ nào lăng một bóng tang du hầu xế (6).

“T́nh biệt-ly hằng mọi nỗi băn-khoăn, kiếp sinh-hóa hẵn các điều vẹn vẽ (7).

“Trên đội chín lần trí kính, chốn đ́nh vi săn sóc chẳng nguôi t́nh (8).- Trước dâng sáu chữ truy-tôn (9), việc khâm vệ sửa sang càng xứng lễ (10).

“Rày nhân:

“Hậu cách linh dư (11).- Kính bày diên lễ (12)
-----------------

(1) (1) Những mong bà được sống lâu như tuổi hạc để con cháu làm tiệc mừng thọ ngạt ngào trong hương sen (ngẫu) thơm.
(2) Ai ngờ bà vội mất ngay, làm cho con cháu đang tuổi xuân xanh, phải buồn tẻ như hoa ủ héo!
(3) Từ nay âm dương cách biệt, các con rất buồn phiền.
(4) Nhưng một dạ kính cẩn, trước sao sau vậy, các con không dám trễ nải.
(5) Dầu bà vui vẻ đi về cảnh Phật, nhưng quên sao được hai chút con nhỏ đang c̣n thơ ngây.
(6) Dầu bà váng bóng ở thành đô là chỗ cung khuyết vua ở, nhưng bà quên sao được đức Pghù-ninh Từ cung là mẹ đang lúc tuổi già như mặt trời xế bóng trên ngọn cây dâu.
(7) “ven vẽ” cũng giống như trọn vẹn.
(8) Nhờ trên có đức vua Cảnh-Thịnh hết ḷng hiếu kính, quyến luyến chốn đ́nh vi là chỗ cha mẹ ở mà săn sóc đến nơi đén chốn.
(9) Vua Cảnh-Thịnh làm lễ truy-tôn bà tháng 11, năm Kỷ -mùi (1799) đă đặt sáu chữ làm miếu-hiệu là “Như ư trang thận trinh-nhất”.
(10) Nay bày đồ xe tang và nghi-vệ để làm việc chôn cất, lại càng xứng hợp với lệ lắm.
(11) Nay sắp sửa xa cách linh-cữu. Kính bày lễ tế điện.


Trang 44

“Trông đóa bạch vân (1) thăm thẳm, t́nh nghĩa xưa ĺa dứt v́ đâu?- Dâng tuần hoàng thủy vơi vơi (2), nghi văn ấy thấu soi chăng nhẽ ?

“Hỡi ôi ! Cảm thay !”

(Phiên âm theo bản chữ nôm
trong DỤ-ÂM VĂN-TẬP
chưa in ra quốc ngữ bao giờ)

-----------------------------

(1) Đó mây trắng.
(2) Dâng lễ cúng tế đạm bạc bằng chút nước vũng ao. Ư nói lễ bạc mà ḷng thành kính có thể cảm đến vong linh


tvb
**************************

----

Anh TVB ơi, tài liêu Dụ-Âm Văn-Tập anh sưu tầm được rất quư. Chỉ cần tài liệu này, cũng đủ chứng minh Công chúa Ngọc Hân mất năm 1799, và chứng minh t́nh duyên giữa vua Quang Trung và Công chúa Ngọc Hân là một cuộc t́nh chan ḥa hạnh phúc, khác với những bài viết hay lời đồn đại rằng Ngọc Hân là Bà Công Chúa sầu muộn và bị ngược đăi. Đọc kỹ Ai Tư Văn và đối chiếu với các bài văn tế do anh sưu tầm được, ta thấy Ngọc Hân yêu thương Nguyễn Huệ rất mực và nàng cũng được Nguyễn Huệ yêu thương chiều chuộng, tạo nên một mối t́nh đằm thắm đầy hạnh phúc. Thương thay, "phận mỏng phúc dày, hồng nhan bạc phận", QT mất sớm , hạnh phúc tiêu tan theo vận nước, nàng Ngọc Hân v́ con c̣n trong trứng nước chưa thể:


"Quyết liều mong vẹn chữ ṭng."
"Trên rường nào ngại, giữa ḍng nào chi!"


Nhưng bà Hoàng sầu héo từ ngày vua QT băng đến khi các con đă cứng cáp lên chín lên mười, bà không thể chờ đợi lâu hơn nữa, đă toại nguyện theo Quân Vương kính yêu nơi chín suối.

VS

----

Lê Đức Phi*, bà là ai ?
Ngọc Hân hay Ngọc B́nh Công Chúa ?


* Đức Phi họ Lê, tên viết theo Đại Nam Chính Biên Liệt Truyện của Quốc Sử Quán triều Nguyễn, mẹ của Quảng Oai công, Thường Tín công, công chúa Ngọc Ngôn và công chúa Ngọc Khuê, các con của vua Gia Long.

Như chúng ta đă biết, có khá nhiều truyền thuyết cũng như nghi vấn nói về chung cuộc của Ngọc Hân Công Chúa (NHCC). Sự thật như thế nào? Đây là một câu hỏi khó trả lời, mặc dù đă có nhiều bài viết đă đưa ra kết luận rơ ràng, tuy nhiên nếu xem lại các sử liệu và sắp xếp lại cho hợp lư, th́ vẫn c̣n có những chỗ có vẻ khúc mắc. Người viết cố gắng tŕnh bày thêm những thiển ư của ḿnh, may ra nghi vấn có thể sáng tỏ thêm tí nào hay chăng, dù mong manh, với hy vọng là sẽ không làm vấn đề này trở nên rối bời hơn nữa.

Trước hết xin phân loại các giả thuyết, và sau đó sẽ lạm bàn từng vấn đề theo thứ tự:
1- Ngọc Hân Công chúa và hai con là Ngọc Bảo và Văn Đức phải trốn tránh sau khi thành Phú Xuân bị đánh úp, vua Cảnh Thịnh (Nguyễn Quang Toản) bỏ chạy gấp rút về Bắc hà và không kịp mang theo thân quyến. Thuyết này có nhiều nguồn gốc khác nhau:
• Việt Sử Tân Biên-Phạm Văn Sơn -quyển 2-trang 57 (VSTB-PVS-q2-t57) ghi lại thuyết này như sau : “Sau khi Phú-xuân thất thủ, bà cùng hai con chạy vào Quảng –Nam sau bị phát giác và xử “tam-ban triều-điển” (thắt cổ, uống thuốc độc, hay tự đâm cổ mà chết).
• “Công Chúa Đông Đô, Hoàng Hậu Phú Xuân, Nàng là ai?”, bài viết của ông Minh Vũ Hồ Ngọc Châm trong Giai Phẩm Tây Sơn Mậu Dần 1998 (HNC): “…công chúa Lê Ngọc Hân đem các con chạy trốn vào quê chồng ở B́nh Định, rồi cũng bị bắt và cũng bị xử cực h́nh như đă nói ở trên”
• HNC: “…công chúa Lê Ngọc Hân đă mang các con chạy trốn vào tận Đồng nai Gia định, nhờ đó mà tránh được tai mắt và nanh vuốt kẻ thù.”

2- VSTB-PVS-q2-t57 ghi lại thuyết này: “Sau khi vua Quang Trung qua đời, bà và hai con đă bị bí mật thủ tiêu v́ sự tranh chấp ngôi vị”

3- VSTB-PVS-q2-t57: “Sau khi nhà Tây-sơn thất bại, Ngọc Hân gặp Nguyễn Ánh và do nhan sắc kiều-diễm, bà đă thành một bà phi của Thế tổ nhà Nguyễn”.

4- VSTB-PVS-q2-t57: “Ngọc Hân công chúa qua đời năm 1799, dưới triều Cảnh Thịnh, khi triều Tây Sơn chưa sụp đổ.”

Với những truyền thuyết như đă nêu trên, cái nào đúng? Đây quả là một vấn đề khó khăn cho lớp hậu sinh muốn t́m hiểu rơ về lịch sử nước nhà. Những nghi vấn này đă để lại những chướng ngại về một giai đoạn lịch sử quan trọng cho hậu thế. Sử gia Phạm Văn Sơn đă phải viết như sau:

VSTB-PVS-q2-t58 : “Mặc dầu chúng ta có một số sử liệu trong tay, cái chết của Ngọc-Hân đến nay vẫn là một nghi vấn lịch sử. Người ta đă đưa ra quá nhiều giả thuyết khiến ta phải buồn mà nghĩ rằng một việc mới xảy ra khoảng trên 160 năm mà các nhà chép sử đă mờ mịt, thân thế và sự nghiệp của một nhân vật khá quan trọng về văn học cũng như về chính trị như Ngọc Hân mà bị các nhà chép sử sao nhăng đến như vậy th́ cái quan-niệm viết sử của triều Nguyễn thật là đáng trách vô cùng. Đến nay hậu sinh chúng ta phá đám sương mù về vụ Ngọc Hân không phải là điều dễ”.


A- Thuyết thứ nhất : Ngọc Hân công chúa và hai con phải trốn tránh sau khi Phú Xuân thất thủ.


Theo như VSTB-PVS-q2-t58 th́ thuyết này “thuộc ông Ngô tất Tố trong cuốn “Thi văn b́nh chú” và thuộc ông Phan trần Chúc trong cuốn “Triều Tây-sơn” nói về việc công chúa và hai con chạy vào Quảng Nam” .
“Việt sử khảo luận”- Hoàng Cơ Thụy –Nhà xuất bản Nam Á, Paris năm 2002 (VSKL-HCT) -q2-t802 : -“Đến năm 1802 khi Nguyễn vương Ánh ra đánh chiếm Bắc Hà, th́ bà Ngọc Hân và hai con (khoảng 15 và 13 tuổi) trốn xuống Quảng Nam, sau bị bắt; bà bị ép uống thuốc độc chết, hai con bị thắt cổ (Bà Phương Lan, Anh thư nước Việt)”.

Trong bài “Công chúa Đông Đô…” của HNC, thuyết này đă được tóm tắt lại như sau:
“Những truyền thuyết và chuyện dă sử về chung cục của công chúa Lê Ngọc Hân thuộc loại thứ nhất th́ đại thể về nội dung đều giống nhau, có khác biệt là chỉ khác biệt về địa điểm đi lánh nạn mà thôi. Sau khi nhà Tây Sơn mất, công chúa Lê Ngọc Hân đem hai con chạy trốn vào Quảng nam, sống trà trộn trong dân chúng được một thời gian, cuối cùng bị phát hiện, bị bắt đưa về Phú Xuân và bị xử án tam ban triều điển.
Nhiều truyền thuyết khác th́ nói rằng công chúa Lê Ngọc Hân đem các con chạy trốn vào quê chồng ở B́nh Định, rồi cũng bị bắt và cũng bị xử cực h́nh như đă nói ở trên. Trong những thập niên 60, 70 lại có những câu chuyện ly kỳ hơn về chung cục của công chúa Lê Ngọc Hân, cả thành văn lẫn truyền khẩu, theo đó th́ công chúa Lê Ngọc Hân đă mang các con chạy trốn vào tận Đồng nai Gia định, nhờ đó mà tránh được tai mắt và nanh vuốt kẻ thù. Nhiều câu chuyện truyền miệng lại c̣n đi xa hơn, kể rằng sau khi nuôi dạy các con khôn lớn nên người, công chúa đă thí phát, tu hành đắc đạo và trở thành Giáo chủ của giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương”.


Theo như thiển ư của người viết, giả sử bà Ngọc Hân và hai con c̣n sống lúc này th́ bà chả dại ǵ mà về B́nh Định, bà ắt hẳn phải biết tại nơi này, con cháu và thân thuộc của nhà Tây Sơn đang bị truy lùng gắt gao. Phong thái của hoàng hậu, hoàng tử và công chúa sẽ không qua mắt được ai và sẽ bị nhà Nguyễn bắt ngay. Vậy thuyết NHCC mang hai con chạy trốn về B́nh Định là chuyện khó tin. Cùng trong bài viết này tác giả nói thêm về giả thuyết là bà Ngọc Hân và hai con vào Đồng Nai đất Gia Định và v.v (độc giả có thể đọc nguyên bài của ông HNC trong “web site” nơi phần tham khảo). Ông HNC nói rơ là những thuyết này không phù hợp với lịch sử, chính người viết cũng cảm thấy đây là chuyện “vẽ rắn thêm chân” cho những truyền thuyết có sẵn. Tuy nhiên việc bà chạy vào Quảng Nam vẫn c̣n là một câu hỏi. NHCC có mang hai con đi trốn tránh không?
Để trả lời cho câu hỏi này, người viết xin trích dẫn những đoạn văn có tính cách xác định như sau:

HNC: “Về phần hai người con của công chúa Lê Ngọc Hân th́ một nhà truyền giáo Tây phương thời bấy giờ tên là L. Barizy đă cho biết là cả hai đều bị Nguyễn vương bắt lúc thành Phú Xuân thất thủ, không kịp chạy theo vua Cảnh Thịnh ra Bắc hà. Giáo sĩ L. Brarizy đă nhận diện và không tiếc lời ca ngợi khuôn mặt tuấn tú và thái độ cứng cỏi của hai đứa trẻ khi bị xử tử h́nh vào năm 1802, cùng một lần với vua Cảnh Thịnh Nguyễn Quang Toản. Như vậy, hai người con của công chúa Lê Ngọc Hân đều đă bị yểu vong th́ làm ǵ có câu chuyện hậu duệ của công chúa c̣n nối dơi tới bây giờ.”

Trong bài “Hăy trả lại trong sáng cho Ngọc hân Công Chúa” của ông Nguyễn An Phong (NAP): “Trong bức thơ đề ngày 16 tháng 7 năm 1801 của Barizy, một sĩ quan người Pháp, tháp tùng cùng Nguyễn Ánh vào chiếm Phú xuân đă ghi lại như sau: "Nhà vua (Nguyễn Ánh) bảo tôi đi xem mặt các cô công chúa của kẻ tiếm vị (Quang Trung). Tôi đến đó họ ở trong một pḥng hơi tối, không phải là một pḥng sang trọng, có tất cả năm công chúa: một cô 16 tuổi theo tôi là một cô gái đẹp, một em bé 12 tuổi là con gái của bà Công chúa Bắc kỳ (Ngọc Hân) em này cũng coi được, c̣n ba cô nữa cũng từ 16 đến 18 tuổi th́ nước da hơi nâu nhưng diện mạo cũng dễ thương. Ngoài ra c̣n có 3 con trai, có một em độ 16 tuổi cũng da nâu nhưng nét mặt th́ tầm thường, c̣n em trai kia độ 12 tuổi là con của bà công chúa Bắc kỳ th́ diện mạo rất đáng yêu và có những cử chỉ rất dễ thương". Như vậy ta thấy rằng khi Barizy đến tận nhà giam để kiểm nhận và xem mặt tất cả các hoàng tử, công chúa quan lại và gia đ́nh của các quan lại cao cấp của Tây Sơn đă bị Nguyễn Ánh bắt tại Phú xuân có rất nhiều phụ nữ nhưng tuyệt nhiên ta không thấy ghi có mặt Hoàng hậu Ngọc Hân mà ông ta đă gọi là Công chúa Bắc kỳ”.

Căn cứ vào các đoạn văn trên, có thể nói là hai con của NHCC đă không trốn thoát khỏi tay quân nhà Nguyễn, khi Phú Xuân thất thủ quá nhanh, họ đă bị giam giữ (1801) và bị giết năm 1802. Lúc này Ngọc Bảo 13 tuổi và Văn Đức 12 tuổi (“Danh nhân Lê Ngọc Hân- Chu Quang Trứ (CQT) ): “… Ngọc hân đă sinh với vua được con gái đầu ḷng là công chúa Ngọc Bảo vào giờ Hợi ngày 20 tháng 4 năm Canh Tuất (4-6-1790), rồi hoàng tử Văn Đức vào giờ Măo ngày 14 tháng Giêng năm Tân Hợi (27-2- 1791”). (Ngọc Bảo và Văn Đức sinh cách nhau 8 tháng 23 ngày ?)

Câu hỏi được đặt ra là lá thư này có đáng tin cậy không? Theo như hai đoạn trích dẫn trên th́ ta thấy đây là hai lá thư khác nhau. Bài của ông NAP nói về lá thư ngày 16 tháng 7 năm 1801, trong thư này chỉ viết về việc các hoàng tử và công chúa bị bắt. Thư này của Barizy, một sĩ quan người Pháp (tên ông này là L. Barizy, người gởi thư cho Chaigneau, và vẽ lại bản đồ trận chiến Thị Nại ngày 1 tháng 3 năm 1801). Bài của ông HNC có lẽ đă dẫn chứng từ lá thư khác, viết về việc tử h́nh năm1802 v́ thư này diễn tả sự việc sau năm 1801 (Tuy ông HNC viết là thư này của nhà truyền giáo có tên là L. Barizy, nhưng người viết nghĩ ông ta là Sĩ quan Pháp, v́ ông này viết khá nhiều thư kể về các sự kiện xảy ra, cách làm việc của ông giống như phóng viên chiến trường ngày nay) .

Trong quyển “Lịch sử nội chiến ở Việt Nam” của Tạ Chí Đại Trường (TCĐT), trang 335-336 :
“Ba giờ chiều ngày 3 tháng 5 (1801), ghe thuyền quân Nguyễn vào bến Phú Xuân (1), Quang Toản vội vă mang vàng bạc, bỏ cả sắc ấn nhà Thanh lại để chạy cốt thoát lấy thân với em là Thái tể Quang Thiệu, Thái sư Quang Khanh cùng đại Tư mă Tứ, Đô đốc Trù. Ở lại hàng có Nội hầu Lê Văn Lợi, Trung thư lệnh Trần Văn Kỷ cùng các Phụng nghi, Thị lang bên văn, Đô đốc, Đô tư bên vơ. Barizy đi thăm người bị bắt thấy có mặt mẹ Trần Quang Diệu, em vợ ông, vợ Vũ Văn Dũng với các con Ngọc Hân mà ông không tiếc lời khen ngợi vẻ mặt ưa nh́n cùng thái độ cứng cỏi của họ (đây là Quang Cương, Quang Tự, Quang Diệu của Thực Lục)”.

Từ những tài liệu này, ta có thể xác định là hai con của NHCC đă không thoát, bị bắt (1801), và bị giết (1802) khi c̣n quá trẻ. Ngọc Hân công chúa ở đâu lúc này? Bà đă chết hay c̣n sống?

Để bổ túc cho những dẫn chứng trên, xin trích một đoạn trong bài viết của ông CQT: “Hơn nữa bộ sách chính sử của nhà Nguyễn Đại Nam Thực Lục nhân năm 1842 phá hủy đền thờ Ngọc Hân ở Phù Ninh có ghi: "Nguyên người xă ấy là Nguyễn Thị Huyền làm cung nhân của vua Lê Hiển Tông, có người con gái là Lê Ngọc Hân, sau gả cho ngụy (Nguyễn) Huệ, sinh được 1 trai và 1 gái, Ngọc Hân chết, con trai, con gái cũng chết non cả".
Người viết chưa có được may mắn để đọc Đại Nam Thực Lục, tuy nhiên, từ câu trên, ta có thể hiểu (ngầm) là khi con trai (Văn Đức), con gái (Ngọc Bảo) chết non th́ NHCC đă chết trước rồi, mặc dù câu viết không xác định thời điểm rơ ràng.

Từ những dẫn chứng trên, truyền thuyết về việc Ngọc Hân Công Chúa dẫn hai con là Ngọc Bảo và Văn Đức đi trốn sau khi Phú Xuân thất thủ năm 1801 chỉ là chuyện vô căn cứ và hoang đường.


B- Thuyết thứ hai : “…bà và hai con đă bị bí mật thủ tiêu v́ sự tranh chấp ngôi vị”

Có hay không chuyện tranh chấp giữa các hoàng hậu về ngôi vua cho con của ḿnh?

Thuyết này được nói tới trong Việt Sử Tân Biên-Phạm Văn Sơn-q2-t58: “…do ông Thái văn Kiểm đưa ra trong buổi thuyết tŕnh tại trường Đại-học quân-sự Sàig̣n ngày 31-3-1961”

Sử gia Phạm Văn Sơn cho rằng giả thuyết này không vững “v́ nhà vua mất năm 1792 là giai đoạn triều Tây-sơn đang thịnh đạt từ trong ra ngoài. Cho tới năm 1795 là lúc có sự lục đục của các đại thần của Phú Xuân, chính sử cũng như dă sử là cửa miệng thế gian chưa hề phát giác một âm mưu chính trị nào về phần bà vợ miền nam của Quang Trung với quốc phó Bùi Đắc Tuyên là anh cùng mẹ khác cha để sát phạt phe bà Ngọc Hân gồm có bà và một số đại thần hay tướng lĩnh…..”

Để có thể kiểm chứng giả thuyết này, việc t́m hiểu thêm về chuyện gia đạo của vua Quang Trung là một sự cần thiết và sử liệu là phương tiện để minh chứng. Tuy nhiên những sử liệu về nhà Tây Sơn lưu truyền lại cho hậu thế quá ít ỏi, hơn nữa sự thật về người anh hùng Nguyễn Huệ và gia đ́nh của ông, nếu không bị làm sai lệch, th́ cũng bị lấp liếm dưới ngọn bút lông của Quốc Sử Quán triều Nguyễn. Khá nhiều nghi vấn lịch sử cũng như truyền thuyết đă được đặt ra về đời Tây Sơn, làm cho hậu thế không biết đâu là sự thật của lịch sử.
Ông Quách Giao ngay trong phần đầu của sách “Nhà Tây Sơn” trong “Lời thưa” đă giải thích về sự sai lạc trong sử liệu như: thiếu thành thật ( Đại Nam Chính Biên Liệt Truyện, Quốc Triều Chính Biên Toát Yếu,v.v…), ở xa như miền Bắc (trường hợp “Hoàng Lê Nhất Thống Chí” của Ngô Văn Gia Phái), sự đàn áp khốc liệt của chính quyền (nhà Nguyễn), nên người dân không dám nói lại rơ sự thật.

Để t́m hiểu sự thật của lịch sử, một số tác giả đă đăng những bài viết và sách rất có giá trị về nhà Tây Sơn. Tuy nhiên những sử liệu được nêu ra lại không giống nhau, làm độc giả muốn t́m hiểu thêm về những nghi vấn này, lại càng thêm mù mịt.

Trở lại vấn đề, chúng ta hăy thử t́m hiểu thêm về tiểu sử của các bà hoàng hậu dưới triều vua Quang Trung.
Trong bài viết của ông Hố Ngọc Châm (HNC), có một đoạn viết về hoàng hậu họ Phạm, có thể tóm tắt về đoạn này như sau:
Theo Tây Sơn Tiềm Long Lục th́ bà tên là Phạm thị Liên, anh em cùng mẹ khác cha với Thái sư Bùi Đắc Tuyên.
Ba người con trai của bà họ Phạm :
Quang Toản: (con cả, c̣n có tên là Quang B́nh, vua Cảnh Thịnh)
Quang Bàn (Tuyên Công Lănh Đốc trấn Thanh Hóa)
Quang Thiệu (Thái Tể)
Hai người con gái là:
Một người lấy Pḥ mă Nguyễn văn Trị
Một người th́ gả cho Nguyễn Phước Tư là tôn thất nhà cựu Nguyễn
Bà mất ngày 29-3-1791, truy tặng là Nhân Cung Đoan Tĩnh Trinh Thục Nhu Thuần Vũ Hoàng Chính Hậu .

Trong bài viết này, không thấy nhắc đến tên Quang Thùy, một người con của vua Quang Trung, đă tự tử sau khi Thăng Long thất thủ được nhắc tới trong “Hoàng Lê Nhất Thống Chí” cũng như trong nhiều sử liệu khác. Vậy Quang Thùy là con của bà nào? Chắn chắn là không phải con của NHCC v́ bà này chỉ có hai con là Ngọc Bảo và Văn Đức. Rồi tên Quang B́nh, có nhiều sử liệu nói đây là tên của Nguyễn Huệ chứ không phải của Quang Toản (Theo như sách “Nhà Tây Sơn” th́ Nguyễn Huệ có tên là Quang B́nh bởi lư do :“V́ ông Nhạc kết duyên với bà Trần Thị Huệ, nên để tránh trùng tên với chị dâu, gia đ́nh mới gọi tên ông Huệ là B́nh”). Vậy “Tây Sơn Tiềm Long Lục “ có thiếu sót ǵ không?

Người viết xin phép để trích dẫn một đoạn nói về các bà hoàng hậu và các con của vua Quang Trung trong sách “Nhà Tây Sơn” của ông Quách Giao, PDF file:
Trang 46:
“Ông Huệ có ba bà vợ chính thức: bà họ Phạm ở Phú Phong, mẹ ông Nguyễn Quang Thùy, bà họ Bùi ở Xuân Ḥa, mẹ ông Nguyễn Quang Toản và bà Ngọc Hân công chúa con gái Vua Lê . Lúc ông Huệ trấn thủ Thuận Hóa th́ bà họ Phạm qua đời đă lâu, bà họ Bùi theo chồng ra Phú Xuân, c̣n bà Ngọc Hân th́ c̣n ở Thăng Long”.


Trang 58:
“Tháng 2 năm Kỷ Dậu (1789), giao phó việc cai trị Bắc Hà cho Ngô Văn Sở, vua Quang Trung trở về Phú Xuân, lo sửa sang việc nước.
….
Tổ chức chánh quyền trung ương.
Vua Quang Trung có ba bà vợ chính thức: - Bà họ Phạm [73] ở thôn Phú Phong, huyện Tuy Viễn (B́nh Khê), phủ Quy Nhơn, mất sớm, sanh hạ được hai trai là Nguyễn Quang Thùy và Nguyễn Quang Bàn.
Bà họ Phạm mất rồi, nhà vua kết duyên cùng bà họ Bùi ở thôn Xuân Ḥa (B́nh Khê). Bà họ Bùi là mẹ của Nguyễn Quang Toản, Nguyễn Quang Thiệu, Nguyễn Quang Khanh và hai người con gái. - Ngọc Hân công chúa mới có một con. Quang Thùy và Quang Bàn lúc bấy giờ đă 17, 18 tuổi. Quang Toản mới 9, 10 tuổi. Con Ngọc Hân mới 2 tuổi. Vua Quang Trung phong bà họ Bùi làm Chánh Cung Hoàng Hậu, bà NgọcHân làm Bắc Cung Hoàng Hậu và lập Nguyễn Quang Toản làm Thái tử. Bà họ Phạm được truy phong là Nhân Cung Đoan Tĩnh Trinh Thục Như Thuần Vũ Hoàng Chánh Hậu, phong cho Quang Thùy làm Khanh Công Linh Bắc Thành, Tiết Chế Thủ Bộ Chư Quân, phong cho Nguyễn Quang Bàn làm Tuyên Công Linh Thanh Hóa Đốc Trấn, Tổng Lư Quân Dân Sự Vụ. Nguyễn Quang Thùy đă được Vua Càn Long phong là An Nam Quốc Vuong Thế Tử. Vua Quang Trung sai sứ đem biểu sang tâu rằng Thùy là con ḍng thứ. Càn Long nghe theo, phong Toản làm An Nam Quốc Vương Thế Tử thay Thùy. Có người bất b́nh, ngỏ ư cùng Nguyễn Quang Thùy, Thùy nói: - Em tôi hay tôi làm Thái tử cũng thế thôi. Điều cốt yếu là làm thế nào cho nước Đại nam được mỗi ngày thêm giàu nạnh, nhà Tây Sơn mỗi ngày mỗi thêm vững bền, là tốt.
Hàng trí thức đương thời khen là Đại nhân. Quan chế vẫn tương tợ như cũ. Đại khái trên th́ có Tam công là Thái Sư, Thái phó, Thái bảo; Tam cô là Thiếu sư, Thiếu phó, Thiếu bảo, Đại chủng tể, Đại tư đồ, Đại tư mă, Đại tư không; Đại đô đốc, Đại đô hộ. Lại có Trung thư sảnh, Trung thư lệnh, Lục bộ Thượng thư... Thị lang, Tư vụ….


Trang 104:
[73] Theo cụ Bùi Văn Lang th́ bà họ Phạm là người Duy Xuyên (Quảng Nam), cùng mẹ khác cha với Bùi Văn Nhật, Bùi Đắc Tưyên; năm 30 tuổi được phong làm Hoàng Hậu và sanh hạ được ba trai hai gái, Quang Toản là trưởng nam. Cụ Bùi đă lầm, v́ bà họ Phạm và bà họ Bùi c̣n miêu duệ ở Phú Phong, Xuân Ḥa.


Ông Quách Giao viết khá rơ, chỉ tiếc là ông không viết về ngày qua đời của các bà hoàng hậu này. Bà thứ nhất là hoàng hậu họ Phạm, ông đă xác định là “cụ Bùi đă lầm” trong ghi chú số 73 trang 104, và chỉ nói là bà mất sớm sau khi đă sanh Quang Thùy và Quang Bàn. Bà được truy phong là hoàng hậu khi vua Quang Trung lên ngôi hoàng đế ngày 25 tháng 11 năm Mậu Thân (1788) (Ngày vua Quang Trung xưng đế: theo VNSL Trần Trọng Kim). Vậy là bà mất trước khi vua Quang Trung xưng đế. Sau khi bà mất th́ nhà vua mới lấy bà họ Bùi, mẹ của Quang Toản, Quang Toản sinh năm 1780, lên ngôi năm 1793 khi mới được 13 tuổi . Vậy có thể nói là hoàng hậu họ Phạm qua đời trước năm 1780 vài năm (người viết phỏng đoán là 1778).

Bà thứ hai là hoàng hậu họ Bùi, nhà vua cưới bà này sau khi bà họ Phạm qua đời, bà này có tới 5 người con. Quang Toản là con lớn nhất, th́ có lẽ nhà vua cưới bà khoảng năm 1778 hay 1779. Ngày qua đời của bà không thấy ông Quách Giao nhắc đến. Vậy bà qua đời khi nào? T́m ra câu trả lời, th́ sự giải đáp cho giả thuyết “tranh chấp ngôi vị” của các bà hậu có lẽ sẽ khá dễ dàng.

Trong bài viết của ông HNC có một đoạn nói về lá thư của giáo sĩ Girard như sau:
“Theo các tài liệu của Phái bộ Truyền giáo Nam Hà, nhất là lá thư của giáo sĩ Girard đề ngày 25-11-1792 gởi giáo sĩ Boiret ở Macao, th́ khi hoàng hậu lâm bệnh, vua Quang Trung đă cho mời thầy thuốc người Âu đến chữa bệnh và đến khi hoàng hậu mất th́ nhà vua đau đớn vật vă đến phát điên phát cuồng. Bà mất ngày 29-3-1791 mà măi đến ngày 25-6 năm đó mới đưa đi chôn cất. Bà được truy tặng là Nhân Cung Đoan Tĩnh Trinh Thục Như Thuần Vũ Hoàng Chính Hậu”.


“Lịch sử nội chiến ở Việt Nam” của Tạ Chí Đại trường, trang 272:
“Người con gái Bắc hà 16 tuổi đó cũng biết nhược điểm của anh hùng nên đă dùng thế lực riêng của ḿnh mà ảnh hưởng tới quyết định của Nguyễn Huệ khi đ̣i phế tự hoàng Lê Duy Kỳ, lập Sùng Nhượng công Duy Cẩn, khi th́ đ̣i ngược lại, “mếu khóc”, vuốt ve tự ái đấng trượng phu. T́nh cảm mềm yếu cũng tỏ rơ mấy năm sau, khi Quang Trung “điên cuồng lên” v́ một người vợ mất ở Phú Xuân(2)
----
(2) Thư Labartette gời cho Letondal 6-10-1797 (A. Launay, III, t 244)”.


Tài liệu của Phái bộ Truyền giáo Nam Hà, thư của giáo sĩ Girard và đoạn trích dẫn nói rơ là có một bà hoàng hậu chết năm 1791 khi vua Quang Trung đang ở ngôi (1788-1792) . Như đă tŕnh bày ở trên, bà họ Phạm qua đời trước năm 1780. Vậy th́ người qua đời ngày 29 tháng 3 năm 1791, phải là bà hoàng hậu họ Bùi, mẹ của Quang Toản.
Tuy nhiên sách “Nhà Tây Sơn” cũng như bài viết của ông HNC đều nói tước hiệu “Nhân Cung Đoan Trinh Thục Như Vũ Hoàng Chính Hậu” là vua Quang Trung truy phong cho bà hoàng hậu họ Phạm. Vậy sự việc như thế nào? Bà họ Phạm chết năm 1791? Mâu thuẫn về chuyện các bà hậu trong sách “Nhà Tây Sơn”?
Tới chỗ khúc mắc này th́ chúng ta phải dùng nhận xét để phán đoán, đồng thời để kiểm chứng lại sự việc.
Chữ“truy phong”hay “truy tặng” chỉ dùng khi nào người đó đă qua đời. Vua Quang Trung truy phong tước Vũ Hoàng Chính Hậu cho một người vợ đă khuất, lúc này, năm 1788, (khi Nguyễn Huệ vừa xưng ngôi là hoàng đế Quang Trung), nhà vua vẫn có hai bà hoàng hậu đang sống bên cạnh, một bà hoàng hậu sẽ qua đời năm 1791 là bà họ Bùi, như đă được nói tới trong những dẫn chứng bên trên, và bà hoàng hậu kia là Ngọc Hân công chúa mà vua Quang Trung cưới năm 1786 khi ra Bắc hà, điều này đă được viết rơ ràng và đồng nhất trong tất cả các sử liệu. Nếu vậy, sách “Nhà Tây Sơn” không có điều ǵ mâu thẫn mà c̣n rất hợp lư, v́ ông Quách Giao nói rơ đây là tước hiệu truy phong cho bà họ Phạm mà không nói là truy phong cho bà họ Bùi. Vậy, câu viết:“Bà được truy tặng là Nhân Cung Đoan Tĩnh Trinh Thục Như Thuần Vũ Hoàng Chính Hậu” trong bài viết của ông HNC có lẽ không cần thiết v́ có thể nhầm người. Đến lúc này tước hiệu truy phong cho bà họ Bùi, người viết vẫn chưa thấy sử liệu nào nói đến, có lẽ v́ thất lạc, hay chưa được truy phong (vua Quang Trung qua đời ngày 29 tháng 7 năm Nhâm Tư (16-9-1792) sau bà này một năm, hoặc v́ người viết chưa đọc đủ sử liệu.

Để bổ túc cho lập luận nêu trên, người viết xin lạm bàn về việc lập thái tử của vua Quang Trung. Trong chiếu của vua Càn Long, khi phong vương cho vua Quang Trung th́ đồng thời cũng phong thế tử cho Quang Thùy, nhưng sau đó vua QT lại gởi biểu văn xin đổi chức thế tử lại cho Quang Toản (con bà họ Bùi). Vua Quang Trung, mặc dù là tay anh hùng vô địch và oai nghiêm, nhưng đối với những bà vợ mà ông thương yêu th́ lại rất yếu mềm. Khi công chúa Ngọc Hân khuyên ông đừng lập Lê Duy Kỳ (Lê Chiêu Thống) làm vua, mà lập Sùng Nhượng Công Lê Duy Vỹ (Cẩn?), anh cả của công chúa Ngọc Hân, ông bằng ḷng. Rồi v́ sự đe dọa của các hoàng thân họ Lê (đ̣i xóa tên công chúa trong ḍng họ), công chúa lại năn nỉ cho Duy Kỳ lên làm vua, ông cũng lại đổi ư. Vậy lư do Quang Thùy là con trưởng không được làm thái tử chắc cũng v́ lời của bà họ Bùi “ỏn thót” bên tai nhà vua về ngôi thái tử của con ḿnh, mặc dù khi Quang Trung qua đời (1792), Quang Toản lúc đó mới chỉ là một cậu bé (13 tuổi) và Quang Thùy đă khá lớn tuổi (23 tuổi). V́ thiếu hậu thuẫn (không c̣n mẹ là bà họ Phạm) và v́ lời của người đàn bà được nhà vua yêu thương, nên Quang Thùy đă mất ngôi thái tử.

Trong phần phụ lục của sách “Nhà Tây Sơn”, bài “Ảnh hưởng của nhà Tây Sơn trong ḍng họ Quách” của Quách Tấn (PDF file, trang 95) viết như sau:
“Nếu vua Quang Trung đừng nghe lời bà họ Bùi truất ngôi thái tử của con trưởng ḍng đích là Nguyễn Quang Thùy đă được vua Càn Long phong thế tử, th́ ngôi cửu ngũ đâu có lọt vào tay Nguyễn Quang Toản con ḍng kế, mới 13 tuổi, khiến sanh việc lủng củng trong triều, làm cho thế nước mỗi ngày một yếu…”.


Bà hoàng hậu họ Bùi này là ai? Có bà này hiện diện trong triều Tây Sơn hay không?

Không thấy tài liệu nào nói rơ, ngoại trừ trong Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim, nhà xuất bản Văn Hóa Thông Tin 1999 (VNSL-TTK) - có nói sơ qua một cách gián tiếp như sau:
VNSL-TTK-t411: “ Vua Cảnh Thịnh tuy đă lên ngôi nhưng mà việc ǵ cũng do ở Thái sư là Bùi Đắc Tuyên quyết đoán cả. Bùi Đắc Tuyên là anh ruột bà Thái hậu, cho nên uy quyền lại càng hống hách lắm.”
Trong Việt Sử Khảo Luận của ông Hoàng Cơ Thụy (VSKL-HCT)-q2-t802 cũng nhắc qua như sau:
-“ Huệ đă có vợ nguyên phối họ Bùi, sinh một trai năm 1783 đặt tên là Nguyễn Quang Toản, sau c̣n hai trai nữa là Quang Thùy và Quang Thiệu (…).

-Sau khi Huệ tự xưng làm Quang Trung hoàng đế tháng 12/1788, phá tan 20 vạn quân Thanh tháng 1/1789, th́ phong bà Ngọc Hân làm Bắc Cung Hoàng Hậu. Chắc bà vợ họ Bùi được phong làm Nam Cung Hoàng Hậu”.


Có lẽ là ông Hoàng Cơ Thụy không biết về bà họ Phạm nên nói Quang Thùy là con bà họ Bùi, và “Nam Cung Hoàng Hậu” là do ông đoán ra.

Sách “Nhà Tây Sơn” của ông Quách Giao, mặc dù tác giả đă nói đây không phải bộ sử về nhà Tây Sơn, nhưng theo thiển ư, có lẽ sách này đưa ra nhiều tài liệu nhất. Gia đ́nh nhà văn Quách Tấn và con là Quách Giao đă từng ở đất B́nh Định và có nhiều liên hệ tới nhà Tây Sơn (phần phụ chú cuối sách), nên những tài liệu đưa ra có tính cách khá khả tín. Vậy chúng ta thử xem sách “Nhà Tây Sơn” (PDF file) nói ǵ về họ Bùi.

Trang 9 :
“Ông Huệ về nhà kết duyên cùng bà Phạm Thị Liên, người thôn Phú Phong huyện Tuy Viễn”.
Trang 22:
“…Bùi Đắc Lương , một cự phú thôn Xuân Hoà huyện Tuy Viễn. Ông Lương sanh ba trai là Bùi Đắc Chí, Bùi Đắc Trung, Bùi Đắc Tuyên và hai gái là Bùi thị Loan, Bùi thị Nhạn. Bùi thị Xuân là con Bùi Đắc Chí gọi Bùi thị Nhạn bằng cô, nhưng Bùi nữ tướng lớn tuổi hơn…”.


Vậy là bà hoàng hậu họ Bùi này có tên là Bùi Thị Loan. Bà Bùi Thị Nhạn là em nhưng lại là nữ tướng dưới trướng Bù i thị Xuân nên không thể là Hoàng Hậu.

Trang 64 có nói về thái sư Bùi đắc Tuyên Như sau:
“Bùi Đắc Tuyên là người làng Xuân Ḥa huyện Tuy Viễn (B́nh Khê), phủ Qui Nhơn, cậu ruột vua Cảnh Thịnh. Dưới triều vua Quang Trung. Tuyên nhờ thế em gái làm hoàng hậu (83) mà được làm quan trong triều. V́ ít học nên chỉ được làm Thị Lang bộ Lễ, nhưng lại được phép ra vào nơi cung cấm. Tuyên thường bày nhiều tṛ chơi để vui ḷng Thái Tử”

Trang 105:
“(83) Tuyên là anh ruột bà hoàng hậu họ Bùi, là anh con bác ruột của Bùi thị Xuân” .

Chỗ này có lẽ ghi lầm, Bùi Đắc Tuyên là chú ruột bà Bùi Thị Xuân.

Qua những trích dẫn trên th́ tiểu sử của bà hoàng hậu họ Bùi đă khá rơ:

Bà là con của ông Bùi Đắc Lương, là cô ruột của nữ tướng Bùi Thị Xuân và là em ruột của thái sư Bùi Đắc Tuyên.

Để đi đến kết luận cho giả thuyết này, người viết xin tóm tắt lại như sau:
- Vua Quang Trung có bà vợ lớn là hoàng hậu họ Phạm (Phạm Thị Liên) mẹ của Nguyễn Quang Thùy, qua đời khoảng năm 1778 hay trước đó, được truy phong là Nhân Cung Đoan Tĩnh Nhân Thục Như Thuần Vũ Hoàng Chính Hậu khi vua Quang Trung lên ngôi hoàng đế năm 1788.
- Vua Quang Trung lấy bà họ Bùi làm vợ kế, bà là Chánh Cung Hoàng Hậu mẹ của vua Cảnh Thịnh (Nguyễn Quang Toản) sau khi bà họ Phạm qua đời.

Năm 1792, khi Thái tử Quang Toản lên ngôi vua, hai bà hoàng hậu họ Phạm và họ Bùi đă tạ thế, chỉ c̣n một hoàng hậu duy nhất đang sống là Ngọc Hân Công Chúa là Bắc Cung Hoàng Hậu (bà viết bài “Ai Tư Văn” khóc vua Quang Trung). Vậy chuyện tranh giành đă không bao giờ xảy ra. Giả thuyết “ Ngọc Hân Công Chúa và hai con đă bị bí mật thủ tiêu v́ sự tranh chấp ngôi vị” không đứng vững và phải bị loại bỏ.


TVB

----

Trước hết là tên mấy bà vợ của vua Quang Trung, đúng như anh nhận xét "râu ông nọ cắm cằm bà kia", rối tinh mù, rất khó phân biệt.
1- "Đại Nam chính Biên Liệt Truyện" quyển 30 nói về nhà Tây sơn (Nguỵ Tây Liệt Truyện)cho biết: "Nguyễn Quang Toản tên Trác, Mẹ họ Phạm, người ở phủ Quy Nhơn cùng quan H́nh bộ Thượng thư Bùi Văn Nhật, quan thái sư Bùi Đắc tuyên là một mẹ khác cha, năm ba mươi tuổi được sách phong làm Hoàng hậu, sanh ba trai hai gái, Nguyễn Quang Toản là con đích". Tài liệu này không đả động ǵ đến tên bà vợ họ Bùi của vua Quang Trung, mà theo tài liệu biên khảo của anh (TVB), bà họ Phạm này chính là bà họ Bùi (có 5 con trong đó Quang Quản là con trưởng), c̣n bà họ Phạm chết từ lâu rồi (có 2 con, trong đó Quang Thùy là con trưởng)
2- "Từ điển Nhân Vật Lịch sử Việt nam" (TDNVLSVN)của Nguyễn Q. Thắng & Nguyễn Bá Thế cũng cho biết: "Nguyễn quang Toản tức vua Cảnh thịnh sinh năm Quí Măo 1183, con thứ vua Quang Trung, có tên là Trác, nên thường gọi là ông "Hoàng Trác", mẹ là Phạm thị được phong là Chánh cung Hoàng Hậu (trên Ngọc Hân một bậc)Vua Quang Trung rất yêu bà, khi bà chết vua Quang Trung hết sức đau xót, được truy tặng là Nhân cung Đoan tĩnh Trinh thục Nhu thuần Vũ chính Hoàng hậu". Tài liệu này có lẽ "tham khảo" từ tài liệu TĐNVLSVN nên có cùng nôi dung "Bà họ Phạm thay tên bà họ Bùi(?)"
Về Nguyễn Quang Thùy, TĐNVLSVN cho biết: "Nguyễn Quang Thùy là con trưởng vua Quang Trung, không rơ năm sinh, anh vua Cảnh Thịnh, nhưng ông là con của một người hầu, chứ không phải anh em cùng mẹ với Quang Toản" (các chữ viết đậm do VS để nhấn mạnh điểm khác biệt)
3- Việt Nam sử Lược (Trần Trọng Kim) cho biết: "Bùi Đắc Tuyên là anh ruột bà Thái Hậu, cho nên uy quyền lại càng hống hách lắm." Tài liệu này tuy không nhắc đến tên các bà Hoàng Hậu, nhưng cũng cho chúng ta biết có bà Hoàng Hậu họ Bùi (chị ruột bùi Đắc Tuyên - họ Bùi).
Chúng ta tiếp tục theo rơi tài liệu biên khảo của anh TVB để có một kết luận khả dĩ chấp nhận được.


VS

 

----

1- Chỉ nói về bà họ Phạm mà không nói bà họ Bùi, th́ đúng như anh đă viết, tài liệu này lấy từ “Đại Nam Chính Biên Liệt Truyện (ĐNCBLT)” của Quốc Sử Quán triều Nguyễn (thành lập năm Minh Mệnh thứ 2, 1821). “ Tiền biên liệt truyện” xong năm 1852, sau đó là “Đệ nhất kỷ chính biên liệt truyện” xong năm Thành Thái thứ nhất, 1889. Quyển 30 “Truyện chép về Ngụy Tây” nằm trong quyển này. Phần chép về Nguyễn Quang Toản th́ như anh đă đưa ra bên trên.

ĐNCBLT viết sau biến cố cả trăm năm, có nhiều điều huyền hoặc, như khi kể về việc qua đời của vua Quang Trung, và bào chữa cho nhà Nguyễn, rất khó tin. Hơn nữa, các con cháu và các thần tử của nhà Tây Sơn phải thay tên đổi họ để trốn tránh, mồ mả phải đổi tên để tránh bị khai quật (biết đâu để tránh mộ Thái hậu bị phá, họ Bùi đă thay tên trên bia đá ?) . Nhà Nguyễn đă không có đầy đủ tài liệu để truy lùng, bằng cớ là vẫn c̣n có những hậu duệ.

Tvb thấy là các tài liệu về sau này (TĐNVLSVN có lẽ là một) hầu hết đều bắt nguồn từ đây. Chỉ thấy Việt Nam Sử Lược của ông TTK nói BĐT là anh ruột của Thái Hậu th́ như anh đă viết, bà này phải là họ Bùi (Cám ơn anh, tvb sẽ sửa lại bài viết trên và thêm tài liệu này vào). Rồi sau đó là sách “Nhà Tây Sơn” của Quách Giao, (có thấy trong Việt Sử Khảo Luận của ông Hoàng Cơ Thụy nhắc tới bà họ Bùi, tuy nhiên qúa sơ sài nên tvb không mang vào bài viết).

C̣n nói như TĐNVLSVN (tvb không có tài liệu này) nói Quang Thùy là con trưởng mà lại là con người hầu (nên không được làm Thái tử ?), th́ tvb thấy tác giả có lẽ đă giải thích sự việc một cách miễn cưỡng để hợp với sử liệu.

Nguyễn Huệ sanh năm 1753, năm 1783 sinh Quang Toản th́ ông 31 tuổi (năm này vua Quang Trung vẫn chỉ là Long Nhượng Tướng quân, đang đánh Gia Định lần thứ hai), lúc này ông đă có Quang Thùy rồi. Nếu mà gọi là “hầu” th́ chắc là ông đă có vợ chính, vợ lẽ. Chẳng lẽ, các bà này không sinh ra người con nào cho ông hay sao, ngoại trừ người “hầu” sinh con trương? Tác giả TĐNVLSVN có lẽ đă không t́m ra bà họ Bùi là bà hoàng hậu thứ hai, đành phải đưa ra sự việc như trên cho hợp lư chăng? Tvb sẽ nghĩ thêm về vấn đề này.

Xin gởi lên đây vài hàng trích dẫn:

Sách “Nhà Tây Sơn” của Quách Giao:
Trang 9:
“Ông Huệ về nhà kết duyên cùng bà Phạm Thị Liên, người thôn Phú Phong huyện Tuy Viễn”.

Trang 22:
"Bùi Thị Nhạn là con gái út Bùi Đắc Lương , một cự phú thôn Xuân Hoà huyện Tuy Viễn. Ông Lương sanh ba trai là Bùi Đắc Chí, Bùi Đắc Trung, Bùi Đắc Tuyên và hai gái là Bùi thị Loan, Bùi thị Nhạn. Bùi thị Xuân là con Bùi Đắc Chí gọi Bùi thị Nhạn bằng cô, nhưng Bùi nữ tướng lớn tuổi hơn và đào tạo Bùi Thị Nhạn thành nữ kiếm khách”.

Vậy là bà hoàng hậu họ Bùi này có tên là Bùi Thị Loan .

Trang 64 có nói về thái sư Bùi đắc Tuyên Như sau:
“Bùi Đắc Tuyên là người làng Xuân Ḥa huyện Tuy Viễn (B́nh Khê), phủ Qui Nhơn, cậu ruột vua Cảnh Thịnh. Dưới triều vua Quang Trung. Tuyên nhờ thế em gái làm hoàng hậu (83) mà được làm quan trong triều. V́ ít học nên chỉ được làm Thị Lang bộ Lễ, nhưng lại được phép ra vào nơi cung cấm. Tuyên thường bày nhiều tṛ chơi để vui ḷng Thái Tử”

Trang 105:
“(83) Tuyên là anh ruột bà hoàng hậu họ Bùi, là anh con bác ruột của Bùi thị Xuân”.
Chỗ này có lẽ ghi lầm, Bùi Đắc Tuyên là chú ruột bà Bùi Thị Xuân.

Anh Vương Sinh à , nếu chỉ c̣n một ḿnh Bắc Cung Hoàng Hậu, và không có bà hậu nào khác bên vua Quang Trung khi ngài qua đời, th́ giả thuyết thứ hai đă có kết luận. Tuy nhiên, t́m hiểu thêm về sự việc lại đưa đến lắm điều, rất là hào hứng. Tvb sẽ sửa lại bài về thuyết thứ hai sau, hiện đang viết về thuyết thứ ba, hy vọng sẽ gởi lên đây cho mọi người đọc và xin thêm ư kiến.
 

C-Thuyết thứ 3: Công chúa Ngọc Hân thành một bà phi của Thế tổ nhà Nguyễn?

Theo sử gia Phạm Văn Sơn th́ giả thuyết này được đưa ra do ông Việt Thường trong bài “Les caprices du génie du mariage ou l’extraordinaire destinée de la Pricesses Ngọc Hân” (Những sự oái oăm của Nguyệt-lăo hay là số kiếp ly kỳ của Ngọc Hân công chúa). Bài này được đăng trong “Bulletin des Amis du Vieux Huế” (Đô-thành hiếu cổ) số 4 phát hành 1941 (bài viết này đă được “post” trong đề tài “Phụ Nữ truyền thuyết Việt nam” cách đây vài tuần trước).
Đại ư bài này nói là vua Gia Long gặp Ngọc Hân Công Chúa tại kinh thành Phú Xuân năm 1801, và nhà vua đă lấy bà này làm phi, dù có lời can ngăn của Lê Văn Duyệt.
Có lẽ ông Phạm Việt Thường “theo hai câu ca dao của thời nhân bấy giờ :
Số đâu có số lạ lùng
Con vua mà lấy hai đời chồng vua”

(VSTB-PVS q2-t60) và một số sử liệu để tiểu thuyết hóa sự việc chăng?

Mở đầu bài “Công chúa Đông Đô, hoàng hậu Phú Xuân, nàng là ai?”, ông Minh Vũ Hồ Ngọc Châm (HNC) viết như sau:
“Trên dưới hai trăm năm nay, trong dân gian thường truyền tụng câu ca dao:

Gái đâu có gái lạ đời
Con vua lại lấy hai đời chồng vua”.


Tuy hai câu ca dao lời có khác đôi chút nhưng ư giống nhau. Cũng trong bài này ông viết:

“Nhưng độc đáo hơn hết, phải kể đến bản gia phả của họ Nguyễn hoàng tộc. Đó là cuốn Hoàng Triều Ngọc Phả, bản quốc ngữ, do Tôn Nhân Phủ biên soạn và ấn hành dưới triều vua Thành Thái. Trong cuốn sách này, ở các chương nói về Quảng Oai công và Thường Tín Quận vương con vua Gia Long, rơ ràng mẹ đẻ của ngài được ghi là Công chúa Lê Ngọc Hân, con vua Hiển Tông nhà Hậu Lê. Thật là rơ ràng và chính xác như một cộng một là hai, như hai cộng hai là bốn, không c̣n bàn căi ǵ nữa cả. Người viết đă chính mắt được đọc những ḍng chữ đó vào năm 1988 tại nhà nhạc phụ, sách do ông Tôn Thất Yên đưa cho mượn. Ông Tôn Thất Yên lúc bấy giờ là người được hội đồng Nguyễn Phước tộc ủy thác điều hành công việc thường ngày của Hội đồng Nguyễn Phước tộc ở Sài g̣n, và được hội Trung Việt Ái hữu ủy thác trông nom quản lư nghĩa trang G̣ Dưa, Thủ đức”.


Sự việc lại càng rắc rối hơn nữa khi ông HNC đưa ra dữ kiện này. Mặc dù chính ông không đồng ư và đưa ra giải thích như sau:

“Xin thưa ngay rằng cuốn gia phả này là bản quốc ngữ, không phải bản hán văn, lại không phải do Quốc sử quán biên soạn mà là tác phẩm phiên dịch của Tôn Nhân Phủ từ bản hán văn cũng của Tôn Nhân Phủ mà ra, mà bản hán văn này th́ trong các chương nói về Quảng Oai công và Thường Tín Quận vương đă viết rằng mẹ các ngài là công chúa Lê Ngọc, con vua Hiển Tông nhà Hậu Lê. Cái lối hành văn cổ điển bằng Hán tự th́ có khi nào nêu rơ tục danh đâu. Mà tác giả bản Hán văn khi viết rằng mẹ các ngài là công chúa Lê Ngọc, con vua Hiển tông nhà Hậu Lê, th́ đă chắc đâu muốn khẳng định rằng đó là công chúa Lê Ngọc Hân. Biết đâu tác giả bản Hán văn muốn nói đến một nàng công chúa Lê Ngọc khác, cũng con vua Hiển tông nhà Hậu Lê? Mà điều này th́ những người phiên dịch ra quốc ngữ đă không hề hay biết, lại thêm nặng t́nh tân học, viết lách tŕnh bày việc ǵ cũng muốn tách bạch rơ ràng nên đă phiên dịch nhóm chữ "Công chúa Lê Ngọc, con vua Hiển tông" thành "Công chúa Lê Ngọc Hân, con vua Hiển Tông" theo sở kiến chủ quan của ḿnh”.


Người viết đồng ư với ông HNC là dịch thuật đễ đưa đến vấn đề sai lầm, đặc biệt là về tên khi người dịch có ư tưởng chủ quan . Tuy nhiên, mấy ai mà có may mắn được đọcvà hiểu cả nguyên bản lẫn bản dịch để kiểm chứng vấn đề.
Vậy đâu là sự thật?
Chuyện vua Gia Long lấy một người công chúa họ Lê và người công chúa này có phải là hoàng hậu như câu ca dao“ Con vua mà lấy hai đời chồng vua” hay không?
Đời của Ngọc Hân công chúa có xảy giống như bài viết với tính cách tiểu thuyết hoá của ông Phạm Việt Thường hay không?
Căn cứ vào các tài liệu th́ chuyện này có thật hay chăng?
Sự việc phải kết luận như thế nào?

Để hy vọng có câu trả lời, người viết xin phép nêu vài tài liệu cần thiết:

Trong Đại Nam Chính Biên Liệt Truyện của Quốc Sử Quán Triều Nguyễn, nhà xuất bản Thuận Hoá, Huế 1997. Bản dịch bởi các nhà Hán học như các ông Hoa Bằng, Đỗ Mộng Khương, Ngô Hữu Tạo, Cao Huy Giu, Nguyễn Trọng Hân……

Tập 2, quyển 2: -Truyện của các hoàng tử- Các con của Thế Tổ Cao Hoàng Đế (vua Gia Long), trang 66 có viết như sau:

“Quảng Uy công tên là Quân:- Con thứ mười của Thế tổ, mẹ là Đức Phi họ Lê. Năm Gia Long thứ 16 phong là Quảng Uy Công.
...
Năm Minh Mạng thứ 10 (1829) là năm Kỷ Sửu mùa hạ, ông bị bệnh đậu chết, mới 21 tuổi....tên thụy là Công Trực….
Ông không có con thừa tự.


Cũng trang 66 viết :
“Thường Tín công tên là Cự: -Con thứ 11 của Thế Tổ (Gia long), là em cùng mẹ với Quảng Uy Công tên là Quân. Năm Gia Long thứ 16 phong là Thường Tín Công. Buổi đầu năm Minh Mạng, coi việc thờ tự Long Thành thái trưởng công chúa. Năm Tự Đức thứ hai (1849) mùa hạ ông mất, thọ 40 tuổi, tên thụy là Ôn Tĩnh. Ông có 7 con trai, 11 con gái, con thứ ba là Thường Đổng, năm Tự Đức thứ 8 (1855 ) phong là Vĩnh Ân đ́nh hầu; con thứ năm là Thường Lâu, năm ấy cho tước là Trợ Quốc khanh ”.

Cũng tập 2, quyển 3: -Truyện của các công chúa - Các con của Thế Tổ Cao Hoàng Đế (vua Gia Long), trang 74 có viết như sau:

“Con gái thứ 10 của Thế tổ, là em gái cùng mẹ với Quảng Uy Công tên là Quân. Năm Minh Mạng thứ 4 (1823), gả cho Lê Văn Yên là con cả Lê Văn Phong làm con thừa tự Lê Văn Duyệt. Năm thứ 16 (1835) việc án của Duyệt phát ra, Yên bị tội phải xử tử. Năm Tự Đức thứ 7, phong là An Nghĩa thái thái trưởng công chúa. Năm thứ 9 (năm Tự Đức thứ 9, 1856) , chúa mất thọ 53 tưổi, tên thụy là Trinh Lệ, có 3 con trai”.


Cũng trang 74 viết :

“Công chúa Ngọc Khuê: - Con gái thứ 12 của Thế Tổ, là em gái cùng mẹ với An Nghĩa công chúa Ngọc Ngôn. Năm Minh Mạng thứ 6 (1825), gả cho vệ úy Nguyễn Văn Thiện là con thứ của Kinh Môn quận công Nguyễn Văn Nhân. Năm Minh Mạng thứ 8 (1827), chúa mất, tưổi 21, tên thụy là Trinh Ư. Năm thứ 9 (1828), Thiện chết, có một con trai”.


Người viết xin tóm tắt lại từ các đoạn tài liệu nêu trên như sau:

Bà Lê Đức Phi có 4 người con với vua Thế Tổ (vua Gia Long) :
1- An Nghĩa công chúa Ngọc Ngôn ( 1803-1855): 53 tuổi.
2- Công chúa Ngọc Khuê (1807-1827): 21 tuổi.
3- Quảng Uy công Quân (1809-1829): 21 tuổi.
4- Thường Tín công Cự (1810- 1849): 40 tuổi.

Như đă tŕnh bày ở trên, giả thuyết này nói bà Đức Phi họ Lê chính là Ngọc Hân Công Chúa. Để chống lại giả thuyết này nhiều người nói đây là một bà công chúa khác, tên là Lê Ngọc B́nh, cũng là hoàng hậu và là vợ của vua Cảnh Thịnh. Vua Gia Long đă lấy bà này làm phi, bà đă không kịp chạy theo vua Cảnh Thịnh khi Phú Xuân (Huế) thất thủ năm 1801.
Vậy bà Lê Đức phi này là ai? Ngọc Hân hay Ngọc B́nh Công Chúa ?

 

D- Thuyết thứ 4: “Ngọc Hân công chúa qua đời năm 1799”

Trước khi lạm bàn về giả thuyết này, người viết xin gom lại kết luận từ những phần trước:

1. Ngọc Hân Công Chúa và hai con là Ngọc Bảo và Văn Đức không hề đi trốn sau khi Phú Xuân thất thủ năm 1801. Ngọc Bảo và Văn Đức đă bị quân Gia Định bắt sống.
2. Ngọc Hân Công Chúa và hai con không hề bị thủ tiêu v́ sự tranh chấp ngôi vị.
3. Ngọc Hân Công Chúa không phải là bà Lê Đức Phi.
Ngọc B́nh Công Chúa - em của Ngọc Hân Công Chúa- là bà Đức Phi họ Lê, người đă trở thành phi tần của vua Gia Long sau khi Phú Xuân thất thủ.


Qua những tŕnh bày trên, một câu hỏi khác được đặt ra là Ngọc Hân Công Chúa ở đâu khi Phú Xuân thất thủ năm 1801?

Trong trích dẫn ở phần trước (mục A), LSNCVN-TCĐT trang 335-356, đă nói về việc các quan văn vơ nhà Tây Sơn ra hàng, việc viên sĩ quan người Pháp là Barizy đi thăm các thân quyến nhà Tây Sơn trong tay quân Nguyễn , ông ta đă không đề cập ǵ đến Ngọc Hân Công Chúa, dù nói rất rơ về con của bà. Vậy năm 1801, bà đă không có mặt tại thành Phú Xuân. Rồi năm 1802, bà cũng không có tên trong những người bị bắt khi Thăng Long thất thủ.

Câu trả lời là Ngọc Hân Công Chúa đă qua đời năm 1799, dưới triều vua Cảnh Thịnh khi nhà Tây Sơn chưa sụp đổ. Đây là thuyết của ông Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm.

VSTB-PVS-q2-t58:
“Căn cứ vào 5 bài điếu văn của Phan huy Ích trong Dụ Am thi-tập và nhiều sử sách khác. Ngọc-Hân mất vào năm Kỷ Mùi (1799)…

Theo ông ngày 11 (Trung-đông) năm Kỷ Mùi (1799) triều đ́nh nhà Tây Sơn làm lễ tru tôn bà là Như Ư Trang Thận Trinh Nhất Hoàng Hậu. Bằng cớ là 5 bài điếu văn do danh nho Phan Huy Ích đă thảo, một cho vua Cảnh Thịnh (Nguyễn Quang Toản) một cho các công chúa con vua Quang Trung, một cho bà Nguyễn Thị Huyền thân mẫu bà Ngọc Hân, một cho các tông thất nhà Lê và một cho bà con bên ngoại trong lễ tế bà Ngọc Hân”.


Sách “Nhà Tây Sơn” (PDF file), trang 72:
“Được tin Qui Nhơn thất thủ, Cảnh Thịnh định thân chinh. Nhưng gặp tang Ngọc Hân, nên tạm hoăn, truyền Nguyễn Văn Giáp vào giữ sông Trà Khúc ở Quảng Ngăi và Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dũng ra giữ Quảng Nam (Kỷ Mùi 1799)”

Trong bài “Danh nhân Lê Ngọc Hân”, ông PGS Chu Quang Trứ viết như sau”

“Bà đưa con ra khỏi cung điện Phú Xuân, sống trong chùa Kim Tiền (Dương Xuân ở Huế) cạnh điện Đan Dương để thờ chồng nuôi con. Bà gượng sống đến ngày mồng 8 tháng 11 năm Kỷ Mùi (4-12-1799) th́ mất, lúc ấy mới 29 tuổi”


Xin trích dẫn vài hàng trong mỗi bài điếu văn để dẫn chứng:

VSTB-PVS-q2-t33: (Bài điếu văn cho vua Cảnh Thịnh đọc)
“Kỷ-mùi đông, nghĩ Ngự-điện Vũ Hoàng-hậu tang quốc âm văn” (mùa đông năm Kỷ-mùi (1799) nghĩ đỡ nhà vua bài văn quốc-âm để tế điện Vũ Hoàng-hậu):
“Than ôi!
Nguyệt in phách-quế, mái trường-thu (1) vừa giăi vẻ làu làu. –Sương ủ hồn hoa; miền thượng-uyển (2) chợt phai mùi thoảng-thoảng (3).
“Nẻo chân-du (4) quạnh-quẽ biết đâu t́m! -Niềm vĩnh-mộ (5) bâng-khuâng hằng trạnh tưởng!
……”


VSTB-PVS-q2-t41:

“CÔNG CHÚA CHƯ NHA ĐIỆN VĂN

(Đọc trong dịp tang Vũ Hoàng-hậu năm Kỷ -mùi 1799)

Than ôi! Đóa thượng-uyển hây hây đua nở (7), giọt sương ngưng mà hiu-hắt màu hoa (8)! vầng thái-âm (9) vằng vặc sáng ḷa, hơi vụ ngất dễ mịt mờ bóng quế (10)!
“Nhẽ đổi thay máy Tạo khôn ḍ,
- Cơn tan hợp đoạn t́nh kể xiết!
Nẻo thuở Doành Hoàng phô vẻ, trau vàng chuốt ngọc vẹnmười phân (1).
Trải phen bến Vị đưa duyên (2), phím sắt soang cầm vầy một thể (3).
…”

“(Phiên âm theo bản chữ nôm
trong DỤ-ÂM VĂN-TẬP chưa in ra quốc ngữ bao giờ)”


Sách “Nhà Tây Sơn” (PDF file), trang 72 (sách này chỉ in hai câu để dẫn chứng) :

“Trong các bài tôn thất nhà Lê:

Hẳn non Lam khí vượng đă tàn rồi
Nên vườn Lăng hoa tươi mà vội thế.
…”



Vậy năm bài điếu văn trong Dụ Am Văn tập của ông Phan Huy Ích là một sử liệu rơ ràng . Ngọc Hân Công Chúa qua đời năm 1799 không c̣n là một giả thuyết, mà là một sự thật lịch sử.


Để kết luận, người viết xin cảm đề:

Ngọc Hân Công Chúa

Thương cảm thay! Công Chúa Ngọc Hân
Nửa đường găy gánh, xót duyên phần
Anh hùng “thọ tứ tuần”* trôi mộng
Thục nữ “ai tư văn”* tủi thân
Hậu thế câu ngâm lời thống thiết
Nhân gian nước mắt giọt tần ngần
Bắc Cung Hoàng Hậu người tài sắc
Nào biết Tây Sơn mất Phú Xuân !


Trần Việt Bắc
7/15/2004

*Ngọc Hân Công Chúa viết biểu chúc mừng vua Quang Trung thọ tứ tuần năm 1792 và bài “Ai Tư Văn” khóc nhà vua sau khi ông qua đời .



Tham khảo:

- Đại Nam Chính Biên Liệt Truyện- Quốc Sử Quán Triều Nguyễn- Nhà xuất bản Thuận Hóa- Huế -1997.
- Việt Nam Sử Lược- Trần Trọng Kim- Nhà xuất bản Văn Hoá Thông Tin-1999.
- Việt Sử Tân Biên- Phạm Văn Sơn-Nhà xuất bản Đại Nam- Sàigon 1961.
- Việt Sử Khảo Luận- Hoàng Cơ Thụy- Nhà xuất bản nam Á-Paris- 2002.
- Quang Trung Nguyễn Huệ- Hoa Bằng- Nhà xuất bản Đại Nam.
- Lịch Sử Nội Chiến Việt Nam từ 1771 đến 1802- Tạ Chí Đại Trường-PDF file- Thư Viện Tiếu Lùn- http://tieulun.hopto.org:25000/
- Nhà Tây Sơn- Quách Giao- PDF file- Thư Viện Tiếu Lùn-http://tieulun.hopto.org:25000/.
- Hoàng Lê nhất thống chí- Ngô gia văn phái-
http://www.informatik.uni-leipzig.de/~duc/sach/hoangle/
- Hăy trả lại trong sáng cho Ngọc Hân Công Chúa- Nguyễn An Phong-http://www.lebichson.net/Binhdinh/03Ngochancongchua.htm
- Công Chúa Đông Đô, Hoàng hậu Phú Xuân, Nàng là ai?-Minh Vũ Hồ Ngọc Châm-http://www.lebichson.net/Binhdinh/03Hoanghauphuxuan.htm
- Danh nhân Lê Ngọc Hân- PGS Chu Quang Trứ- http://home.no.net/tptruong/vanhoc/ddlnh.htm
 

tvb

-----

Đọc lại tài liệu nêu trên, nhất là bài thơ của Nguyễn Gia thế phả, VS xin được bàn luận với anh cho thêm phần hào hứng.
1- "Thời niên thiếu Gia Vu là con của công chúa Ngọc Quỳnh thường chơi thân với Quang Thùy con Ngọc Hân". Ở đây,không hiểu có sự lẫn lộn nào về tên họ hay không? Nhưng theo VS, Quang Thùy là con lớn của vua Quang Trung, đă theo cha ra Bắc lần thứ nhất với chiêu bài "Phù Lê Diệt Trịnh" rồi, th́ không thể nào là con Ngọc Hân được.
2- Câu thơ: "Khóc ông Hoàng Đệ..." chữ "Hoàng Đệ" ở đây chỉ Quang Thùy là em vua Cảnh Thịnh Quang Toản (thực ra Quang Thùy lớn tuổi hơn Quang Toản, và là anh Quang Toản mới đúng)). Quang Thùy khi bị bắt cùng với Quang Toản đă tự tử, đúng với chữ "hủy thân".
3- "Bầu nhiệt huyết ôm chờ nhạn Bắc" (Ngọc Hân). VS rât thắc mắc về sự ghi chú này, v́ chữ "nhạn" cũng như "tin nhạn" xưa thường được các cụ dùng để chỉ "tin tức" (VS tự xóa bỏ 2 hàng, để tránh sự hiểu lầm).
Theo VS, có lẽ câu thơ này ám chỉ "Gia Vu đang nóng ḷng hăng say chờ tin tức của ḍng dơi nhà Lê nổi dậy ở miền Bắc chăng?" (chữ bầu nhiệt huyết hay bầu máu nóng chỉ sự nhiệt thành muốn tham gia vào một công cuộc lớn lao, nghiêng trời lở đất nào đó! Nhất là vào thời nhà Nguyễn thường có những cuộc nổi dậy của những người họ Lê)


VS

Anh TVB ơi! Công khó nhọc của anh sắp được đền bù: Tất cả những tài liệu kê cứu về Lê Ngọc Hân, giống như mớ ḅng bong, nhờ anh hệ thống hóa, đang từ từ được gỡ rối và rất ăn khớp với nhạu, kể cả câu chuyện tiểu thuyết "Gia Long gặp Ngọc Hân..." của ông Việt Thường cũng "có lư" của nó.
Vấn đề "rắc rối" là:
1- Triều nhà Nguyễn Gia Long cố t́nh bôi xoá hết những tài liệu liên quan đến đời Tây sơn.
2- Bản Hán Văn của Hoàng Triều Ngọc Phả (Gia Phả của Nguyễn Hoàng Tộc ghi chép sự việc theo lối cổ, "kỵ húy" nên chỉ chép tên bà Phi của vua Gia Long là "Lê Ngọc". Không biết vô t́nh hay cố ư, người dịch ra chữ Quốc Ngữ đă thêm chữ "Hân" vào, thành ... Lê Ngọc Hân! Làm cho bao nhiêu người "nhức đầu" về cái sự "nhanh nhẩu đoảng" của người dịch này!Ngoài ra, VS xin bổ túc thêm ư kiến:
- Về câu ca dao:" Số đâu có số lạ lùng" " Con vua lại lấy hai chồng làm vua", so với trường hợp Ngọc Hân (nếu c̣n sống tới ngày Phú Xuân thất thủ) cũng chẳng sai chút nào! Thế mới khổ cho người t́m hiểu như...TVB!
- Đúng như anh TVB phân tích, giả thử nếu Ngọc Hân c̣n sống và lấy vua Gia Long th́ năm 1810 bà Phi này đă trên 40 tuổi, khó có thể sinh sản được! Với tuổi thọ trung b́nh thời bấy giờ khoảng 50, 60 ( 70 tuổi là cổ lai hy, hiếm hoi lắm mới có người sống tới 70, v́ ..."gái 30 tuổi đă toan về già" rồi).
- Khi vua Gia Long chiếm Phú Xuân (1801), Bà Ngọc Hân lúc đó đă 31 tuổi , là tuổi "về già" đối với thời bấy giờ. Gái goá 2 con trên 30 tuổi lại quá thương yêu chồng con, thân h́nh gầy ốm(?), "tiều tuỵ"(?) không thiết tha trang điểm (Vắng chàng, điểm phấn tô hồng với ai?) dù có sắc đẹp hồi trẻ thế nào đi nữa, cũng khó có thể làm cho vua Gia Long mê mệt được.
- "Gái thập tam, nam thập lục", người thời xưa mau già, cũng mau trưởng thành " Ca dao cho biết:
"Em lấy anh từ thuở 13"
"Đến năm 18, thiếp đà 5 con"
Như vậy Bà Ngọc Hân sắp xếp cho em gái út (Lê Ngọc B́nh) vào Hoàng cung làm Hoàng Hậu
(lấy con chồng là vua Cảnh Thịnh, lúc 13 tuổi) không có ǵ là lạ (nhất là để tăng thêm vây cánh, thế lực đối với phe Bùi Đắc Tuyên)(?). Về luân lư, con gái thời đó coi như "nữ nhân ngoại tộc", nên cũng chẳng có ǵ là sai quấy (So với thời nhà Trần c̣n "nhẹ" hơn nhiều).
Trên đây chỉ là vài ư kiến rời. Hồi chung cuộc chúng ta hăy chờ anh TVB ...


---

Dâng Bào *

Chúa Tiên tài sắc, vẹn niềm tin
Âu yếm dâng bào, Vua xuất chinh
Tiền tuyến, Quân Vương vung kiếm trận
Hậu phương, Thần Thiếp nguyện câu kinh
"Quang Trung Đại Đế tiêu xâm lược"
"Hoàng Hậu Bắc Cung kiến thái b́nh"
Hạnh phúc uyên ương vui chiến thắng
Sử xanh truyền tụng mối duyên t́nh.

Vương Sinh

* Công Chúa Ngọc Hân tục gọi là Chúa Tiên, nổi tiếng Bắc Hà về sắc đẹp và tài thơ văn. Nàng là con gái yêu thứ 21 của vua Lê Hiển Tông. Năm 1786, vua Lê gả Ngọc Hân cho người anh hùng áo vải Tây Sơn Nguyễn Huệ, lúc đó nàng mới 16 tuổi.
Năm 1788, quân Măn Thanh xâm phạm cơi bờ Đại Việt, chiếm trọn thành Thăng Long. Nguyễn Huệ lên ngôi vua, phong Ngọc Hân làm Hữu Hoàng Hậu và cử đại binh ra Bắc đánh đuổi ngoại xâm.
Trước khi xuất chinh, Vua Quang Trung đă ngự giá đến từ biệt Ngọc Hân tại Thư Pḥng của nàng. Nơi đây trang hoàng nhiều tranh vẽ và những bài thơ do chính tay Ngọc Hân họa. Trong thư pḥng c̣n trưng bầy nhiều pho sách quư, một cây nguyệt cầm treo trên vách, bút nghiên trên bàn và một bàn cờ bằng ngọc ở gần cửa sổ. Thư pḥng này chính là nơi nhà vua thường lui tới xướng họa và đàm đạo việc nước với Ngọc Hân.
Như thường lệ, mỗi lần ra trận, Ngọc Hân lại dâng lên vua tấm hoàng bào với niềm tin tưởng nhà vua sẽ được b́nh an và chiến thắng nơi chiến trường, đồng thời cũng để tỏ ḷng quyến luyến yêu thương. Ở lại cung cấm, Ngọc Hân sẽ ra sức chăm sóc các con của nhà vua và để ư giúp đỡ công việc hàng ngày trong tam cung lục viên, nên nàng rất được các cung tần thương mến.
Nhà vua âu yếm đỡ lấy tấm Hoàng Bào trên tay Ngọc Hân... Ngoài sân, con bạch mă đă thắng sẵn yên cương do một cận vệ cầm giữ bỗng co hai chân trước lên trời, hí vang ... như muốn dục dă nhà vua lên đường. ..Xa xa, đoàn đại binh cờ quạt chiêng trống ầm ĩ , cát bụi mịt mù đang tiến về phương Bắc...
 

VS

----

Hà Phương Hoài ghi chép:

Ngọc Hân Công Chúa hay Bắc Cung Hoàng Hậu th́ có bài "Ai Tư Văn"

Lê Ngọc Hân
(1770-1799)

Mà nay áo vải cờ đào,
Giúp dân dựng nước xiết bao công tŕnh...


Lê Ngọc Hân là con vua Lê Hiển Tông và bà Chiêu Nghi Nguyễn Thị Huyền. Bà có nhan sắc, thông minh, lại giỏi thơ văn.

Năm 1786, anh hùng "áo vải cờ đào" Nguyễn Huệ ra Bắc với chiêu bài "phù Lê diệt Trịnh". Ngọc Hân vâng mệnh vua cha kết duyên cùng Nguyễn Huệ và theo ông về Thuận Hóa.

Năm 1788, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng Đế trước khi ra Bắc lần thứ ba để diệt quân Thanh, lấy niên hiệu Quang Trung, phong Ngọc Hân làm Hữu Cung Hoàng Hậu.

Năm 1789, sau khi đại thắng quân Thanh, Nguyễn Huệ lại phong bà làm Bắc Cung Hoàng Hậu.

Năm 1792, Quang Trung Hoàng Đế đột ngột băng hà. Bà viết Tế Vua Quang Trung và Ai Tư Văn để bày tỏ nỗi đau khổ cùng cực cũng như nỗi tiếc thương vô hạn cho người chồng anh hùng vắn số.

Tác phẩm Ai Tư Văn chịu nhiều ảnh hưởng của bản dịch Chinh Phụ Ngâm của Đoàn Thị Điểm, nhưng cũng không hiếm những đoạn, những câu t́nh ư cảm động tha thiết, làm rung động ḷng người.

Có nhiều giả thuyết về cái chết của Ngọc Hân Hoàng Hậu, song thuyết đáng tin cậy nhất là bà mất vào năm 1799 từ bài văn tế bà do Phan Huy Ích viết, có chép trong Dụ Am Văn Tập.

Lê Ngọc Hân - Tiếng khóc thành ngâm
Tưởng niệm Lê Ngọc Hân

***

Xin vào đây để đọc Ai Tư Văn

http://home.no.net/tptruong/vanhoc/lnhatv.htm

và những link khác
Le Ngoc Han - Tieng khoc thanh ngam - [ Translate this page ]
... Khóc chồng và khóc cho số phận chính ḿnh, bà đă sáng tác
hai áng văn bất hủ: Ai tư văn và Văn tế vua Quang Trung. ...
http://home.no.net/tptruong/vanhoc/lnhtktn.htm - 12k - Cached - Similar pages
[ More results from home.no.net ]

Công Uẩn - Ai Tư Văn
... : Ai Tư Văn :. #1. 04/05/2004. Việt Lang. Webmaster. Tham gia ngày:
20/03/04. Nơi Cư Ngụ: Hoa Kỳ. Bài gởi: 170. Ai Tư Văn. ...
www.conguan.com/forum/showthread.php?t=2435 - 37k - Cached - Similar pages

NguoiVienXu
... lấy chồng"... Công chúa, hoàng hậu Lê Ngọc Hân (1771-1799)
đă Khóc Quang Trung trong Ai Tư Văn: "Kiếp này chưa ...
www.nguoivienxu.vietnam.let/tanman/2004/03/54530/ - 21k - Cached - Similar pages

Vietmedia: Vietnam Music Lyrics Culture Chat Midi Picture Image ...
... Bà viết Tế Vua Quang Trung và Ai Tư Văn để bày tỏ nỗi đau khổ
cùng cực cũng như nỗi tiếc thương vô hạn cho người chồng ...
www.vietmedia.com/language/aituvan/ - 33k - Cached - Similar pages

Library: Truyen Vietnam
... Thư Viện > Văn Học Việt-Nam Văn Học Việt-Nam. #, Tựa đề, Tác giả,
Thể loại. 1. » Ai Tư Văn, Ngọc Hân Hoàng Hậu. Văn Học Việt-Nam. ...
www.queviet.net/truyen/ index.php?view=archive&type=14 - 28k - Cached - Similar pages

Dat Viet Forums - Văn Học Nghệ Thuật Thời Tây Sơn
... Sĩ và hai con là Ngô Th́ Nhậm, Ngô Th́ Chí, như các nhà thơ Phan Huy
Ích, Nguyễn Du, như Ngọc Hân Công chúa, tác giả Ai Tư Văn... ...
www.datviet.com/forums/archive/index.php/t-42386.html - 27k - Cached - Similar pages

Quang Trung - Nguyễn Huệ
... đại: Mà nay áo vải cờ đào, Giúp dân dựng nước xiết
bao công tŕnh. (Ai tư văn - LÊ NGỌC hÂN). Nguyễn ...
www.ugvf.org/TaiLieu/VHNT/NguyenHue.htm - 21k - Cached - Similar pages
 

 

----

Phụ lục:

TẠI SAO VUA QUANG TRUNG NGUYỄN HUỆ ĐỔI TÊN THÀNH NGUYỄN QUANG B̀NH?


Bên lề nghi vấn lịch sử về ngày mất của Ngọc Hân Công Chúa, Vương Sinh muốn nêu câu hỏi thắc mắc tại sao vua Quang Trung Nguyễn Huệ lại đổi tên thành Nguyễn Quang B́nh?
Như chúng ta đều biết, Nguyễn Huệ là người con trai thứ hai trong gia đ́nh (Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ)ông tổ bốn đời vốn họ Hồ (cùng ḍng dơi Hồ Quư Ly - VNSL)tại sao Nguyễn Huệ không lấy lại họ Hồ như Hồ Quư Ly? (Lê Quư Ly lấy lại họ Hồ, và đổi tên nước là Đại Ngu, ḍng dơi nhà Ngu bên Tàu)
 

Theo Đại Nam Chính Biên Liệt Truyện (Nguỵ Tây, chính sử triều Nguyễn), vua Quang Trung sau khi đại thắng quân Tôn sĩ Nghị đă bằng ḷng giảng hoà và cầu phong với nhà Thanh, đồng thời đổi tên thành Nguyễn Quang B́nh(37b). Các con và cháu của vua Quang Trung Nguyễn Huệ đều mang họ NGUYỄN QUANG như Nguyễn Quang Toản (con trưởng, sau là vua Cảnh Thịnh), Nguyễn Quang Thùy, Nguyễn Quang Bàn, Nguyễn Quang Thiện, Nguyễn Quang Chiêu (?), Nguyễn Quang Khanh, Nguyễn Quang Hiển (cháu)...
Phải chăng vua Quang Trung đă có mộng lớn muốn tạo dựng một nước Việt Nam thật hùng cường, đất đai thật rộng lớn, biên giới phía Bắc mở rộng thêm về phía Lưỡng Quảng và biên giới phía Nam rộng tới Cà Mâu...Đồng thời vua Quang Trung cũng muốn(?) tạo dựng một ḍng họ Nguyễn Quang thật oai hùng khác với ḍng họ Nguyễn Phúc (Nguyễn Phúc Ánh tức vua Gia Long) đang bị nhà Tây Sơn đánh đuổi tơi bời.
Vua Quang Trung không muốn trở lại họ Hồ v́ bài học lịch sử về Hồ Quư Ly c̣n đó. Họ Hồ tuy tài giỏi, nhưng không được nhân dân ủng hộ cũng v́ một phần dân c̣n nhớ nhà Trần, phần khác có lẽ dân không ưa họ Hồ v́ ư định của họ Hồ muốn nước Đại Việt trở thành "Đại Ngu" (là một nước Tàu ngày xưa).
Cũng v́ số trời, ḍng họ Nguyễn Quang đă bị ḍng họ Nguyễn Phúc săn t́m, tận diệt không c̣n ai nữa.


**

Về vụ Nguyễn Quang Thùy và Nguyễn Quang Toản ai là anh, ai là em đă rơ rồi: Nguyễn Quang Thùy là anh (con trưởng của vua Quang Trung và là anh của Quang Toản). Chính vua nhà Thanh đă phong Quang Thùy là Thế tử. Nhưng v́ Quang Thùy là con nàng Hầu, c̣n Quang Toản là con bà họ Phạm (chính cung)(Từ Điển Nhân Vật Lịch Sử) nên sau đó vua nhà Thanh phong Quang Toản làm Thế tử (sau lên làm vua tức là vua Cảnh Thịnh)(Theo Chính Sử triều Nguyễn

VS

----

Nhà họ Lương:

- Theo tài liệu trong "Từ Điển Nhân Vật Lịch sử" (NG. Q. Thắng & Ng. Bá Thế), Bà Lương Minh Nguyệt là vợ Đinh Liệt, danh tướng của B́nh Định Vương Lê Lợi, người làng Chuế Cầu, Huyện Ư Yên, tỉnh Nam Định. Bà mở quán rượu, có mười cô gái xinh đẹp làng Vơ Vọng làm chiêu đăi để quyến rũ giặc. Bà Lương Minh Nguyệt đă cùng 10 cô gái phục rượu cho giặc Minh bị say, do đó tướng Lê Thạch đă nhân cơ hội đánh chiếm thành Cổ Lộng. Sau Bà được phong là Nhất phẩm Phu nhân. Khi mất, người làng an táng Bà ở sau dinh Quốc Công (tước của chồng Bà là Đinh Liệt)và được các đời vua Lê phong làm Phúc Thần (Chồng Bà là Đinh Liệt cũng được sắc phong là Phúc Thần).
- Theo tài liệu trong "Những Câu Chuyện việt Sử - tập 2" của Trần gia Phụng, Bà Lương Thị Huệ, liệt nữ, sinh vào đầu thế kỷ 15 tại Nam Định. Sau khi cha mẹ từ trần, Bà làm nghề đào hát để nuôi thân tại kinh đô Thăng Long. Dưới thời quân Minh đô hộ nước ta, Bà mở một quán rượu nổi tiếng, nhiều tướng sĩ người Minh thường lui tới. Khi Lê Lợi mang quân tấn công Thăng Long, Bà xin làm nội ứng và đă phục rượu cho giặc say mèm, để nghĩa quân đến bắt trói thả trôi sông , đồng thời tấn công kinh thành. Trong trận đánh này Bà bị tử trận. Sau Bà được phong làm Phúc Thành Kiến Quốc Trinh Liệt Phu Nhân, lập đền thờ ở huyện Thọ Xương. Dân chúng c̣n gọi Bà là Ngọc Kiều Phu Nhân.
Ông Trần Gia Phụng đă xếp tên Bà Lương Thị Huệ trong danh sách các Phụ Nữ Truyền thuyết Việt Nam.
Xét 2 tài liệu nêu trên, Bà Lương Minh Nguyệt và Bà Lương Thị Huệ có vẻ cùng là một (?), mặc dù tên và các sự việc kể lại hơi khác nhau một chút.


VS

Trở lại đầu